CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị 1. Sự ra đời của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Sau khi Đảng thành lập và lãnh đạo cách mạng Việt Nam (3/2/1930), Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng Minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam (nay là MTTQ Việt Nam). Trong giai đoạn cách mạng nước ta chưa giành được chính quyền, Mặt trận làm nhiệm vụ tập hợp, huy động sức mạnh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng để tiến hành đấu tranh cách mạng và giành chính quyền về tay Nhân dân.
Các hình thức tổ chức hoạt động của Mặt trận như: Hội Phản đế đồng minh (1930), Phản đế liên minh (1935), Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương (1938), Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế (1940), Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (1941), Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (1946), Mặt trận Liên - Việt (1951), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955, 1977), Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam (1960) và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam (1968). Đó là sự vận dụng mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng thời kỳ đấu tranh của cách mạng Việt Nam. Trong mọi hoàn cảnh khó khăn, thách thức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn là nơi khơi dậy và phát huy lòng yêu nước của người Việt Nam; tập hợp và tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Bản Chỉ thị đã xác định Hội Phản đế Đồng minh phải bảo đảm tính 8 luan an công - nông, đồng thời phải mở rộng tới các thành phần trong dân tộc để Mặt trận Dân tộc thống nhất thực sự là của toàn dân và nhấn mạnh: “Giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó thành công”.
Đó là kết quả của quá trình chuẩn bị công phu suốt trong một thập kỷ, đó cũng là cống hiến vĩ đại về lý luận và thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, gắn phong trào yêu nước Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ Hội Phản đế Đồng minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, đến nay Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trải qua lịch sử 89 năm xây dựng và không ngừng phát triển, cùng với những chặng đường lịch sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam. Ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam có những hình thức và tên gọi khác nhau cho phù hợp với nhiệm vụ, nhưng đều nhằm mục đích xây dựng, tập hợp các tầng lớp Nhân dân thành một khối đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh to lớn của cả dân tộc để hoàn thành những mục tiêu cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo thực hiện. Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1.
Vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được quy định rõ trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận… Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một phần của hệ thống chính trị. Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động có khác nhau nhưng đều là công cụ để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của 9 luan an nhân dân và cùng có chung một mục đích là phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình độc lập thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. “Mặt trận Tổ quốc là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân” - điều đó xác định rõ hơn vị trí của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị.
Trong cách mạng XHCN, vai trò của MTTQ Việt Nam tiếp tục được khẳng định trong đời sống chính trị xã hội ở nước ta. Vai trò của MTTQ Việt Nam không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính Nhân dân, chính lịch sử thừa nhận. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nền dân chủ ngày càng phát triển thì vai trò của Mặt trận và các đoàn thể ngày càng được mở rộng. Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Do đó, nâng cao vai trò của Mặt trận trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội là một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Từ khi đất nước thống nhất, MTTQ Việt Nam luôn giữ vai trò củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ cách mạng mới. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, tháng 5 năm 1995, nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh của Người, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã phát động trong cả nước Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” nay là Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Đây là Cuộc vận động Nhân dân rộng lớn trong cả nước của thời kỳ đổi mới có nội dung toàn diện, diễn ra trong thời gian dài.
10 luan an Qua hơn 20 năm triển khai thực hiện, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” của Đảng và Nhà nước ta đã phát huy được tính tích cực, năng động, sáng tạo và huy động được nội lực của người dân, cộng đồng dân cư, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh ở từng địa bàn khu dân cư; đồng thời, MTTQ các cấp đã tuyên truyền, khơi dậy truyền thống đoàn kết trong các tầng lớp Nhân dân, tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền dân chủ trực tiếp của Nhân dân thông qua hình thức tự quản ở cơ sở (đoạn đường Phụ nữ tự quản, Thanh niên tự quản, Cựu chiến binh tự quản.), tích cực xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh… Kết quả của Cuộc vận động đã góp phần quan trọng cùng Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới, bối cảnh mới. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1. Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1. Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức Tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam có những quyền hạn như sau: Thảo luận, chất vấn, đánh giá, kiến nghị về tổ chức và hoạt động của Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp.
Đề nghị Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp chủ trì hiệp thương giữa các thành viên có liên quan, nhằm hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động Nhân dân theo sáng kiến của tổ chức mình. Giới thiệu người để hiệp thương cử vào Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp… Tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam có những trách nhiệm như sau: Thực hiện Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ, Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam, Quy chế phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên trong Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp; các chương trình 11 luan an phối hợp giữa Uỷ ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên với cơ quan nhà nước cùng cấp có liên quan… 1. Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cá nhân Cá nhân là thành viên của MTTQ Việt Nam có những quyền hạn như sau: Thảo luận, kiến nghị, chất vấn về tổ chức và hoạt động của Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp. Được mời tham gia thực hiện nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam liên quan đến lĩnh vực công tác; đề xuất các nội dung về chương trình công tác và chính sáchcho Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp… Cá nhân là thành viên của MTTQ Việt Nam có những trách nhiệm như sau: Thực hiện Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ, Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam, Chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp; báo cáo kết quả thực hiện trách nhiệm của thành viên với Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp theo quy định… 1.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ủy ban MTTQ Việt Nam ở mỗi cấp là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội của MTTQ Việt Nam cấp đó. Số lượng Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp nào, do đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam cấp đó hiệp thương thỏa thuận và quyết định theo cơ cấu thành phần quy định tại Điều 13, Điều 22, Điều 24 Điều lệ MTTQ Việt Nam và hướng dẫn của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp trên trực tiếp. Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam ở mỗi cấp đương nhiên không còn là Ủy viên trong những trường hợp sau đây: Không còn là đại diện của tổ chức thành viên đã cử ra; Không còn là đại diện của Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp dưới hoặc Ban Công tác Mặt trận ở khu dân cư; Cán bộ Mặt trận chuyên trách chuyển công tác khác hoặc nghỉ hưu. Việc cử người thay thế do Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp đóquyết định.
Trong nhiệm kỳ đại hội, khi cần tăng thêm Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt 12 luan an Nam, Ủy ban MTTQ Việt Nam mỗi cấp có quyền cử bổ sung một số Ủy viên Ủy ban nhưng không vượt quá 10% tổng số Ủy viên đã được đại hội cử ra.