phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị và danh mục các công trính đã công bố của tác giả; danh mục tham khảo và danh mục các phụ lục, Luận án được bố cục thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động GD NPT gắn với kinh tế - xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức hoạt động GD NPT ở vùng DHNTB. Chƣơng 3: Giải pháp tổ chức hoạt động GD NPT gắn với kinh tế - xã hội ở vùng DHNTB. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỀ PHỔ THÔNG GẮN VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề và kinh nghiệm GD nghề nghiệp cho HS phổ thông ở nƣớc ngoài Tuy không có khái niệm “Giáo dục nghề phổ thông” như ở Việt Nam, nhưng nội dung GD nghề nghiệp (mang tình định hướng nghề) cho HS PT (tương tự như hoạt động GD NPT của chúng ta hiện nay) và vấn đề kết hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp trong GD nghề nghiệp thí đã được các nhà KH hầu hết các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và nhiều nước đã triển khai từ những thập niên 50, 60 của thế kỷ thứ 19 đến nay. Vấn đề GD nghề nghiệp cho HS PT được các quốc gia đặc biệt quan tâm, và hầu hết đều tập trung ĐT nghề cho số HS có xu hướng sau tốt nghiệp PT sẽ đi vào các trường nghề hoặc lao động trực tiếp thông qua việc dạy học phân hóa. Ngay từ năm 1848, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” khẳng định tình cấp thiết của hoạt động giúp đỡ HS PT đi vào thế giới nghề nghiệp.
Tác giả Magumi Nishino ở Viện Nghiên cứu GD Nhật Bản cho rằng HS PT phải được “Bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” [70, tr. Tác giả Allan Walker (ở Australia) khẳng định về phương thức ĐT PT như sau: “Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết, mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bính đẳng trong tất cả HS, làm cho HS vừa có kỹ năng lao động, vừa có tri thức” [62, tr. Tổ chức Nghiên cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế trong Hoạt động dạy học (GATWU.BRD) của CHLB Đức, thời gian gần đây đã có nhiều nghiên cứu giá trị về vấn đề GD nghề nghiệp cho HS PT. Nổi bật nhất là các công trính nghiên cứu 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về phương thức tổ chức cho HS PT thực tập ở nhà máy, xì nghiệp, các cơ sở kinh doanh - dịch vụ của các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut keim, Michaell Schumann, Gehart Duismann, H.
Về tầm quan trọng của việc dạy học lao động - kỹ thuật - kinh tế, tác giả Wolfgang Schulz khẳng định: “Hoạt động dạy học lao động - kỹ thuật - kinh tế không chỉ mang tình quan trọng đối với những môn học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của GD trung học PT… bởi ví nó tạo điều kiện cho HS phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động xã hội” [62, tr. Các công trính nghiên cứu của các nhà KH GD thuộc Cộng hòa dân chủ Đức (trước đây) như Heinz Frankiewicz, Bernd Rothe, Ulrich Viets, B.Marschneider khi đề cập đến cơ sở KH của việc tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp cho HS đã đưa ra phương thức phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm GD kỹ thuật tổng hợp và các trường PT trong việc lập kế hoạch thực tập cho HS PT. Về việc phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc GD nghề đã được nhiều tác giả đề cập. Chẳng hạn như: Ở CHLB Đức, tác giả Bernd Praetzler đề cập đến vấn đề ĐT nghề bằng hệ thống kép [9], [48], tác giả Wolf- Dictrich Grcinert với tác phẩm “The German System of Vocational Education” đã nghiên cứu về nội dung, cấu trúc, chình sách và sự phối hợp giữa ĐT và tuyển dụng [48, tr.17], theo đó HS được học lý thuyết tại trường, việc thực hành cơ bản và thực tập sản xuất được tổ chức xen kẽ tại hai địa điểm là nhà trường và đơn vị sản xuất.
Theo Jacques Delors - chủ tịch Ủy ban quốc tế độc lập về GD cho thế kỷ XXI của tổ chức UNESCO coi “học để làm việc” là trụ cột căn bản không thể thiếu được trong bốn trụ cột nền tảng của GD. Đặc biệt, năm 1997 Tổ chức UNESCO đã xuất bản cuốn sách “Promotion of linkage between Technical and Vocational Education and the world of work” đề cập vấn đề đẩy mạnh sự liên kết giữa GD kỹ thuật và ĐT nghề với thế giới nghề nghiệp, trong đó có mối liên quan giữa sản xuất với HN kỹ thuật. Đây cũng là những cơ sở quan trọng của việc đề xuất các giải pháp phát triển GDNPT cho HS trên cơ sở sự phối hợp giữa 3 thiết chế trung tâm KTTH - HN, trường PT và doanh nghiệp. Việc nghiên cứu về phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp đối với HS 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PT đã được các nhà KH Liên Xô trước đây như X.Ia Batưsep, X.A Sapôrinski, Tschebưseva… nghiên cứu [96, tr.
Đặc biệt, ở Cộng hòa Dân chủ Đức (nay là CHLB Đức) trước đây đã thành lập hệ thống trung tâm GD kỹ thuật tổng hợp (tương tự như hệ thống trung tâm KTTH - HN ở chúng ta hiện nay) để GD nghề nghiệp và HN cho HS các trường PT lân cận. Các vấn đề về cơ sở KH của việc tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho HS PT, phương thức phối hợp giữa nhà trường PT và trung tâm GD kỹ thuật tổng hợp được các tác giả Heinz Frankiewicz.Marschneider nghiên cứu [82, tr. Các nhà KH GD ở các nước ASEAN nhận thấy nhà trường PT có chiều hướng xa rời cuộc sống, nên đã có nhiều công trính nghiên cứu đưa ra khuyến cáo phải tăng thời lượng GD kỹ thuật, lao động trong chương trính GD PT. Chiến lược gắn kết chương trính GD PT với chương trính GD chuyên nghiệp trên một nền kiến thức văn hóa hợp lý của các nước ASEAN có tác dụng rèn luyện tư duy logic, tư duy biện chứng, tư duy kinh tế, kỹ thuật và QL của HS.
Điều này góp phần giúp HS có khả năng thìch ứng nhanh, khả năng cạnh tranh cao trong cơ chế thị trường [82, tr. Trên cơ sở các công trính nghiên cứu của các nhà khoa học, chình phủ nhiều nước đã chú trọng triển khai việc GD nghề nghiệp cho HS phổ thông. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm một số nƣớc về lĩnh vực hoạt động này. - Ở Mỹ: Tỷ lệ HS trung học được phân luồng theo hướng ĐT nghề nghiệp chiếm 24% [62, tr.
HS được học chương trính “GD hướng nghiệp” ngay từ tiểu học. Chương trính này góp phần thực hiện mối liên hệ giữa nhà trường và cơ sở sản xuất. Thành lập những hội đồng thực hiện sự hợp tác giữa nhà trường với xã hội, bao gồm đại diện trường học, xì nghiệp, các thành phần kinh tế trong thị trường lao động.000 nghiệp đoàn tham gia công việc của hội đồng, mỗi năm thu hút 600.000 HS thực hành sản xuất [58, tr. Đây là một trong những cơ sở để chúng tôi đề xuất giải pháp xây dựng mối liên kết giữa Trường PT, trung tâm KTTH-HN và Doanh nghiệp (bao gồm cả các hộ kinh doanh nhỏ và kinh tế hộ gia đính) trong việc tổ chức hoạt động GDNPT cho HS theo hướng gắn với KT-XH.
- Ở Ý: GD được chia làm 2 bộ phận chình là học viện và hướng nghiệp. Kết 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thúc GD bắt buộc (tiểu học 5 năm và THCS 3 năm), HS được lựa chọn giữa nhiều loại trường khác nhau như Cổ điển, KH, Kỹ thuật, cơ khì, kế toán, Ngôn ngữ, Nghệ thuật. Kết thúc THPT (5 năm), HS có thể chọn bất kỳ khoa ĐH nào. - Ở Anh: HS được học chương trính thiết kế và môn công nghệ.
HS được thiết kế và làm ra sản phẩm, chú trọng thực hành, khám phá, đánh giá sản phẩm và ứng dụng của nó trong cuộc sống. - Ở Australia: Việc GD nghề nghiệp cho HS PT (gần giống như GDNPT ở nước ta) được cấp chứng chỉ nghề bậc 1 và Chứng chỉ bậc 2, chẳng những được ưu tiên khi xét tuyển mà còn được công nhận liên thông nếu tiếp tục học nghề: GIÁO DỤC ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Sơ đồ 1.1: Cấp độ ĐT của Australia Nguồn: [109]. Đây là mô hính mà Việt Nam cần tham khảo và áp dụng một cách sáng tạo trong điều kiện của mính. Trong đó, vấn đề được hệ thống GD nghề công nhận chứng chỉ nghề khi học ở trường PT là điều hết sức có ý nghĩa và tạo động lực để HS tìch cực trong việc học NPT.
- Ở Hàn Quốc: HS nam được học môn kỹ nghệ, HS nữ được học môn kinh tế gia đính như: Nông nghiệp, Ngư nghiệp và CN thương mại. Các môn này nằm trong chương trính tự chọn bắt buộc. - Ở Trung Quốc: Một số nội dung kỹ thuật – lao động là bắt buộc, giúp HS 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có kiến thức, kỹ năng thật cần thiết và có thể tham gia ngay vào cuộc sống lao động sau khi tốt nghiệp THCS, THPT. Những năm qua, nhờ đưa GD nghề nghiệp vào trường PT nên đã góp phần đắc lực vào việc phân luồng HS sau trung học một cách hợp lý và đáp ứng đòi hỏi của xã hội: ĐT nguồn nhân lực vừa có học vấn PT hoàn chỉnh, vừa có kỹ năng nghề nghiệp.26] - Ở một số nước ASEAN: Philipin vừa chuẩn bị cho HS PT học lên ĐH, vừa ĐT 1 nghề.
Chương trính năm 1975 đã “nghề nghiệp hoá THPT” [108, tr. Malaysia tổ chức cho HS học môn nghề và công nghệ với các nội dung như: Kỹ thuật cơ khì, Kỹ thuật xây dựng, Kỹ thuật điện và điện tử, Vẽ kỹ thuật, Những nguyên tắc cơ bản của kế toán, Kinh tế cơ sở, Thương nghiệp, KH công nghiệp và KH gia đính. Trong khi đó ở Indonesia, một trong những trọng điểm của chình sách phát triển GD THPT là nâng cao chất lượng HS tốt nghiệp theo nhu cầu nhân lực kỹ thuật, ví vậy cấp THPT đã hướng mạnh và ĐT nghề nghiệp theo các chuyên môn hẹp [108, tr.