Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học của tác giả Bùi Đức Tú với đề tài "Tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông gắn với kinh tế - xã hội ở vùng Duyên hải Nam Trung bộ", thuộc chuyên ngành Quản lý giáo dục (Mã số: 62 14 05 01), được bảo vệ tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và PGS.TS. Đặng Danh Ánh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp là đòi hỏi khách quan. Báo cáo của Jacques Delors trình lên UNESCO nhấn mạnh 4 trụ cột giáo dục: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để cùng chung sống (Learning to live together) và Học để tồn tại (Learning to be). Trong đó, trụ cột "Học để làm" đòi hỏi công tác hướng nghiệp và chuẩn bị nghề phải được thực hiện từ bậc phổ thông. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX và Kết luận Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX đã chỉ rõ những bất hợp lý trong cơ cấu đào tạo, tình trạng mất cân đối giữa các cấp độ đào tạo và sự thiếu gắn kết giữa giáo dục với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của từng địa phương.
Tâm lý xã hội coi đại học là con đường tiến thân duy nhất dẫn đến tình trạng phân luồng học sinh sau trung học gặp nhiều khó khăn. Dữ liệu khảo sát từ Viện Nghiên cứu - Đào tạo và Tư vấn Khoa học Công nghệ cho thấy 91,2% thanh niên được hỏi muốn vào đại học, chỉ có 3,5% chọn học nghề, 1,4% đi làm ngay và 3,9% chưa định hướng hoặc chọn con đường khác. Tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ" diễn ra phổ biến. Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) đã ban hành Chỉ thị 33/2003/CT-BGD-ĐT nhằm tăng cường giáo dục hướng nghiệp (GDHN) và giáo dục nghề phổ thông (GDNPT), hoạt động GDNPT trên thực tế vẫn mang tính hình thức, nội dung cứng nhắc, chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động tại từng vùng, miền.
Tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB), mạng lưới trường phổ thông và các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp (KTTH-HN) gặp nhiều trở ngại về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và kinh phí. Một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của GDNPT, thậm chí có xu hướng xem nhẹ hoặc muốn giải thể các trung tâm KTTH-HN. Trước công trình này, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào tiếp cận việc tổ chức hoạt động GDNPT gắn với đặc thù phát triển KT-XH và nhu cầu nhân lực của vùng DHNTB dưới góc độ khoa học quản lý giáo dục.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề xuất hệ thống giải pháp quản lý nhằm tổ chức hoạt động GDNPT theo hướng gắn kết với KT-XH ở vùng DHNTB, tạo tiền đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng và các địa phương.
Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDNPT và công tác tổ chức hoạt động GDNPT gắn với yêu cầu phát triển KT-XH.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động GDNPT gắn với KT-XH tại các tỉnh thuộc vùng DHNTB, chỉ ra các nguyên nhân thuộc về công tác quản lý.
- Đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức hoạt động GDNPT gắn với KT-XH ở vùng DHNTB; tổ chức khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp.
Giả thuyết khoa học
Đào tạo nguồn nhân lực cho vùng DHNTB còn nhiều bất cập. Nếu các hoạt động GDNPT ở vùng DHNTB được tổ chức theo cách tiếp cận vùng và dựa trên mối liên kết chặt chẽ giữa 3 thiết chế: trường phổ thông (PT), trung tâm KTTH-HN và doanh nghiệp tại địa phương, thì sẽ nâng cao được chất lượng hoạt động GDNPT cho học sinh trung học phổ thông (THPT), góp phần phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của vùng và từng địa phương.
Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động GDNPT cho học sinh phổ thông.
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác tổ chức hoạt động GDNPT tại các trung tâm KTTH-HN và các trường phổ thông thuộc vùng DHNTB.
- Phạm vi nội dung và đối tượng tác động: Tập trung vào chương trình GDNPT lớp 11 (105 tiết) bậc THPT tại các trung tâm KTTH-HN, trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) có dạy nghề phổ thông và các trường THPT. Chủ thể quản lý được nghiên cứu là Hiệu trưởng trường THPT và Giám đốc trung tâm KTTH-HN.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 17 cơ sở giáo dục có tổ chức GDNPT trên địa bàn 4 tỉnh đại diện của vùng DHNTB: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý số liệu thực trạng từ năm học 2004 - 2005 đến năm học 2008 - 2009. Thực nghiệm giải pháp tiến hành từ tháng 9/2008 đến tháng 4/2009.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Nghiên cứu về giáo dục nghề nghiệp và định hướng nghề cho học sinh phổ thông đã được triển khai tại nhiều quốc gia:
- Tại Pháp, từ năm 1848 đã xuất bản tác phẩm "Hướng nghiệp chọn nghề", đặt nền móng cho việc hỗ trợ học sinh tiếp cận thế giới nghề nghiệp.
- Tại Nhật Bản, Magumi Nishino (Viện Nghiên cứu Giáo dục Nhật Bản) khẳng định yêu cầu bồi dưỡng tri thức, kỹ năng nghề nghiệp cơ bản và thái độ lao động cho học sinh phổ thông.
- Tại Australia, Allan Walker nghiên cứu phương thức đào tạo tích hợp, theo đó việc GDNPT trong trường phổ thông được công nhận và cấp Chứng chỉ nghề bậc 1 hoặc Chứng chỉ bậc 2, cho phép liên thông trực tiếp lên hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học.
- Tại Cộng hòa Liên bang Đức và Cộng hòa Dân chủ Đức (trước đây), Tổ chức Nghiên cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế trong Hoạt động dạy học (GATWU.BRD) với các công trình của Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michaell Schumann, Gehart Duismann, H. Rademacker, Wolfgang Schulz, Heinz Frankiewicz, Bernd Rothe, Ulrich Viets, B. Marschneider đã nghiên cứu mô hình phối hợp giữa trung tâm kỹ thuật tổng hợp với trường phổ thông và đưa học sinh thực tập tại nhà máy. Bernd Praetzler và Wolf-Dietrich Greinert phân tích hệ thống đào tạo kép (Dual system) kết hợp giữa học lý thuyết tại trường và thực hành tại doanh nghiệp.
- Tổ chức UNESCO (1997) xuất bản ấn phẩm "Promotion of linkage between Technical and Vocational Education and the world of work", thúc đẩy liên kết giữa giáo dục kỹ thuật với thế giới việc làm.
- Tại Liên Xô (trước đây), các nhà khoa học S.Ia. Batưsep, S.A. Sapôrinski, Tschebưseva đi sâu vào lý thuyết và phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp.
- Tại khu vực ASEAN, các quốc gia như Philippines (triển khai nghề nghiệp hóa THPT từ 1975), Malaysia (giảng dạy công nghệ, kỹ thuật cơ khí, điện, kế toán) và Indonesia (đào tạo kỹ thuật chuyên môn hẹp) đã đưa nội dung nghề vào trường phổ thông nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, vấn đề giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cho học sinh được phản ánh qua các giai đoạn:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết "Học hay, cày giỏi" đã khẳng định việc cung cấp tri thức kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp chủ yếu cho học sinh.
- Giai đoạn 1977 - 1980, Phạm Tất Dong, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, Trần Đức Xước (Ban Kỹ thuật - Viện Khoa học Giáo dục) nghiên cứu đề tài dạy lao động kỹ thuật theo quan điểm hoạt động nhân cách tại Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam Ninh, đặt cơ sở cho sự ra đời của mạng lưới trung tâm KTTH-HN.
- Đặng Danh Ánh (1977, Luận án tại Moskva) phân tích tâm lý sự hình thành kỹ năng chế tạo kỹ thuật; sau đó tiếp tục công bố các công trình về dạy học nêu vấn đề trong GDHN và GDNPT tại các trung tâm KTTH-HN.
- Phạm Tất Dong khảo sát thực tiễn cho thấy 67,4% thanh niên không có việc làm do không biết nghề, từ đó đề xuất nguyên tắc gắn GDHN với dạy nghề.
- Phạm Minh Hạc nghiên cứu phát triển giáo dục gắn với phát triển KT-XH và nguồn nhân lực thời kỳ đổi mới.
- Các tác giả Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Thế Trường, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Hữu Long nghiên cứu phương thức giáo dục kỹ thuật, tổ chức lao động sản xuất và tư vấn nghề.
- Đề tài cấp Nhà nước KX-05-09 (2004) do Nguyễn Văn Lê chủ nhiệm khẳng định vai trò của GDNPT trong việc khắc phục tính trừu tượng của kiến thức văn hóa và định hướng phân luồng.
- Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004) tại Hội thảo quốc tế "Đối thoại Pháp - Á" báo cáo về thực trạng, chuyên môn và hợp tác quốc tế trong GDHN, GDNPT.
- Hoàng Đức Nhuận, Trần Khánh Đức, Trần Đức Xước nghiên cứu mô hình giao thoa giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp theo hướng mô-đun hóa.
- Phan Văn Kha (Đề tài B2007-CTGD-04, 2007) phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu đào tạo.
- Các nghiên cứu của Trung tâm Lao động - Hướng nghiệp (Bộ GD-ĐT) như Đề tài B2006-39-01 về năng lực quản lý của cán bộ trung tâm KTTH-HN; đề tài tích hợp GDHN vào môn văn hóa; đề tài năm 2008 của Nguyễn Hùng về đổi mới dạy NPT.
- Các luận án, luận văn liên quan: Hà Thế Truyền (1996), Phạm Văn Sơn (2002), Trần Khắc Hoàn, Nguyễn Đình Đạo (2005), Bùi Việt Phú (2009), Huỳnh Thị Tam Thanh (2009), Lê Đình Nam (nghiên cứu tại Khánh Hòa), Phan Thị Kim Hồng (nghiên cứu tại Ninh Thuận).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận GDNPT ở góc độ phương pháp dạy học kỹ thuật, quản lý GDHN nói chung hoặc nghiên cứu cục bộ tại một trung tâm. Luận án của Bùi Đức Tú tập trung giải quyết khoảng trống:
- Xác lập cơ sở lý luận quản lý tổ chức hoạt động GDNPT theo "mục tiêu kép" (vừa rèn kỹ năng nghề ban đầu, vừa tư vấn hướng nghiệp).
- Phân tích thực trạng quản lý GDNPT theo đặc thù không gian kinh tế vùng DHNTB.
- Xây dựng mô hình liên kết 3 thiết chế (Trường phổ thông - Trung tâm KTTH-HN - Doanh nghiệp) với cơ chế pháp lý, cơ chế tình cảm và cơ chế ngành/lãnh thổ.
- Đề xuất danh mục nghề và quy trình quản lý dạy thực hành phù hợp với chuyển dịch cơ cấu KT-XH của vùng DHNTB.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các lý thuyết và khái niệm:
- Quản lý và Quản lý giáo dục: Tiếp cận quản lý gồm 4 chức năng cốt lõi: Kế hoạch hóa - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra. Quản lý giáo dục bao gồm quản lý mục tiêu, nội dung/chương trình, đội ngũ giáo viên, người học, phương pháp/hình thức tổ chức, điều kiện cơ sở vật chất - tài chính và kết quả giáo dục.
- Khái niệm Tổ chức và Cấu trúc hoạt động giáo dục: Tổ chức được tiếp cận đồng thời là danh từ (bộ máy, nhân sự, thiết chế) và động từ (tiến trình điều hành, triển khai). Cấu trúc hoạt động giáo dục trong nhà trường gồm 6 thành tố tương tác: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp - Giáo viên - Học sinh - Điều kiện, phương tiện.
| Thành tố cấu trúc |
Nội dung xác định trong tổ chức hoạt động GDNPT |
| Mục tiêu |
Thực hiện "mục tiêu kép": rèn luyện kỹ năng nghề ban đầu và thử thách năng lực để tư vấn hướng nghiệp, hình thành tác phong công nghiệp. |
| Nội dung |
Kết hợp chương trình chuẩn quốc gia (105 tiết) với chương trình địa phương hóa gắn với kinh tế biển, nông nghiệp đặc thù, tiểu thủ công nghiệp vùng DHNTB. |
| Phương pháp |
Dạy học tích hợp lý thuyết và thực hành (thực hành chiếm 50% - 75%), phân chia nhóm, thực hành theo cặp, gắn với sản phẩm thực tế. |
| Lực lượng giáo dục |
Đội ngũ giáo viên cơ hữu tại trung tâm KTTH-HN, giáo viên kiêm nhiệm tại trường phổ thông, nghệ nhân và kỹ thuật viên doanh nghiệp. |
| Đối tượng giáo dục |
Học sinh lớp 11 THPT với các đặc điểm tâm sinh lý, hứng thú và nhu cầu định hướng nghề nghiệp. |
| Điều kiện, phương tiện |
Nhà xưởng, máy móc, vật tư tiêu hao, kinh phí ngân sách kết hợp đóng góp xã hội hóa và sự hỗ trợ của doanh nghiệp. |
- Giáo dục kỹ thuật tổng hợp: Dựa trên quan điểm của K. Marx, F. Engels và V.I. Lenin về việc trang bị cho người học nguyên lý cơ bản của các quá trình sản xuất và kỹ năng sử dụng các công cụ lao động phổ biến, tạo khả năng thích ứng nghề nghiệp.
- Tam giác hướng nghiệp của K.K. Platonov: Hoạt động hướng nghiệp vận hành trên 3 đỉnh: Tuyên truyền, định hướng nghề - Tư vấn nghề - Tuyển chọn nghề, dựa trên sự tương tác giữa nhu cầu phân công lao động xã hội, đặc điểm ngành nghề và phẩm chất tâm sinh lý của học sinh.
- Phân loại mục tiêu giáo dục của B.S. Bloom: Vận dụng 3 lĩnh vực (Kiến thức: 6 mức từ Biết đến Đánh giá; Kỹ năng: 5 mức từ Bắt chước đến Thành thạo/kỹ xảo; Thái độ: 5 mức từ Tiếp nhận đến Chuẩn định/đánh giá) để xây dựng mục tiêu bài học và tiêu chí đánh giá GDNPT.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận phức hợp (complex approach); tiếp cận hệ thống (system approach); tiếp cận phát triển (development approach); tiếp cận thị trường và cung - cầu lao động theo vùng.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra bằng phiếu hỏi (An-két): Xây dựng hệ thống phiếu khảo sát nhận thức, thực trạng và mức độ cấp thiết/khả thi của các giải pháp. Mẫu khảo sát gồm cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV), học sinh (HS) và phụ huynh học sinh (PHHS) tại 17 cơ sở giáo dục thuộc 4 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
- Tổng kết kinh nghiệm: Đi sâu nghiên cứu thực tế tại Trung tâm KTTH-HN Khánh Hòa và Trung tâm KTTH-HN Phan Rang (Ninh Thuận) – hai đơn vị điển hình toàn quốc của Bộ GD-ĐT.
- Phương pháp chuyên gia và phỏng vấn: Trao đổi, phỏng vấn sâu các nhà khoa học quản lý giáo dục, lãnh đạo Sở GD-ĐT, hiệu trưởng trường THPT, giám đốc trung tâm KTTH-HN và chủ doanh nghiệp.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Bố trí nhóm Thực nghiệm (TN) và nhóm Đối chứng (ĐC) tại Trung tâm KTTH-HN Phan Rang từ tháng 9/2008 đến tháng 4/2009.
- Công cụ và kỹ thuật xử lý dữ liệu:
- Sử dụng máy tính Casio FX-570MS, phần mềm Microsoft Excel và phần mềm thống kê SPSS (Statistical Package for Social Sciences) phiên bản 8.0 for Windows.
- Tính toán các tham số thống kê: Tần số ($f$), tần suất (%), điểm trung bình cộng ($\overline{X}$), phương sai ($S^2$), độ lệch chuẩn ($SD$), hệ số tương quan và kiểm định thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông gắn với kinh tế - xã hội
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về GDNPT và công tác quản lý hoạt động này trong mối liên hệ với phát triển KT-XH:
- Bản chất của GDNPT: Luận án khẳng định GDNPT không phải là đào tạo công nhân kỹ thuật hay thợ lành nghề mà là một bộ phận của giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Mục tiêu của chương trình là trang bị kiến thức, kỹ năng lao động kỹ thuật ban đầu, rèn luyện thái độ đối với lao động và thực hiện tư vấn hướng nghiệp (mục tiêu kép).
- Khung mục tiêu bài học theo thang đo B.S. Bloom: Cụ thể hóa 3 lĩnh vực nhận thức, kỹ năng và thái độ cho từng môn học nghề phổ thông nhằm chuẩn hóa khâu soạn giảng và đánh giá.
- Mối quan hệ giữa giáo dục và cơ cấu nguồn nhân lực: Phân tích sự tác động qua lại giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu đào tạo. Hoạt động GDNPT cung cấp đầu vào quan trọng cho việc phân luồng, điều chỉnh cơ cấu nhân lực tại chỗ theo phương châm "ly nông - bất ly hương".
- Mô hình phối hợp 3 thiết chế: Xây dựng cơ sở lý luận về mối liên kết giữa Trường phổ thông (quản lý học sinh, giáo dục văn hóa), Trung tâm KTTH-HN (cơ sở vật chất chuyên ngành, đội ngũ giáo viên nghề, tổ chức dạy học) và Doanh nghiệp (môi trường thực tế, định hướng nhu cầu kỹ năng, hỗ trợ thiết bị và vật liệu thực hành).
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Chương 2 trình bày các dữ liệu khảo sát thực tế tại 4 tỉnh (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận):
- Đặc điểm KT-XH và nguồn nhân lực vùng DHNTB: Vùng có thế mạnh về kinh tế biển, du lịch - dịch vụ, năng lượng, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp khô hạn. Các chỉ số về GDP, cơ cấu kinh tế, Chỉ số Phát triển Con người (HDI) và Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2006 - 2009 cho thấy nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp đang tăng cao, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp.
- Thực trạng nhận thức và quản lý chương trình:
- Đa số học sinh và phụ huynh tham gia GDNPT chủ yếu nhằm mục đích lấy điểm khuyến khích cho kỳ thi tốt nghiệp THPT, chưa xuất phát từ nhu cầu học nghề thực chất.
- Nội dung giảng dạy phụ thuộc hoàn toàn vào 11 nghề do Bộ GD-ĐT ban hành (Làm vườn, Nuôi cá, Trồng rừng, Gò, Điện dân dụng, Điện tử dân dụng, Sửa chữa xe máy, Cắt may, Nấu ăn, Thêu tay, Tin học văn phòng). Nhiều nghề không phù hợp với đặc thù chuyển dịch kinh tế của vùng DHNTB.
- Thực trạng phương pháp, đội ngũ và cơ sở vật chất:
- Phương pháp dạy học chủ yếu là thuyết trình lý thuyết, thiếu giờ thực hành hoặc thực hành chay do thiếu nguyên vật liệu và thiết bị.
- Giáo viên dạy nghề phổ thông thiếu về số lượng, không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn; nhiều giáo viên văn hóa (Vật lý, Sinh học, Công nghệ) được phân công dạy chéo môn mà không qua bồi dưỡng bài bản.
- Cơ sở vật chất, xưởng thực hành tại các trường THPT rất nghèo nàn; kinh phí ngân sách cấp cho các trung tâm KTTH-HN chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu vật tư tiêu hao.
- Mô hình tổ chức: Có sự phân hóa rõ rệt giữa việc dạy NPT tại Trung tâm KTTH-HN và dạy tại trường THPT. Các trường THPT tự tổ chức dạy NPT thường mang tính đối phó, thiếu xưởng thực hành. Mối liên kết giữa nhà trường, trung tâm và doanh nghiệp hầu như chưa được thiết lập.
- 8 nguyên nhân quản lý dẫn đến chất lượng GDNPT còn thấp:
- Nguyên nhân 1: Nhận thức của các cấp quản lý và cộng đồng về GDNPT chưa đầy đủ.
- Nguyên nhân 2: Chương trình GDNPT mang tính cứng nhắc, áp dụng đồng loạt toàn quốc, thiếu tính mềm dẻo theo vùng miền.
- Nguyên nhân 3: Đội ngũ giáo viên dạy nghề thiếu chuẩn hóa, thiếu chính sách đãi ngộ thỏa đáng.
- Nguyên nhân 4: Thiếu đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất và trang thiết bị thực hành chuyên dụng.
- Nguyên nhân 5: Công tác chỉ đạo dạy học thực hành và kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ, thiếu tiêu chí tác phong công nghiệp.
- Nguyên nhân 6: Chưa xây dựng được cơ chế phối hợp hiệu quả giữa trường phổ thông, trung tâm KTTH-HN và doanh nghiệp.
- Nguyên nhân 7: Công tác tư vấn hướng nghiệp chưa được lồng ghép thực chất vào quá trình dạy nghề.
- Nguyên nhân 8: Công tác kiểm tra, thanh tra chuyên môn của các cấp quản lý giáo dục còn buông lỏng hoặc mang tính hình thức.
Chương 3: Giải pháp tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông gắn với kinh tế - xã hội vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp quản lý, khảo nghiệm và báo cáo kết quả thực nghiệm sư phạm:
Nguyên tắc xây dựng giải pháp
- Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ và thực tiễn.
- Nguyên tắc kế thừa, hiệu quả và phát triển.
- Nguyên tắc định hướng sử dụng nguồn nhân lực.
Hệ thống 6 nhóm giải pháp quản lý
| Nhóm giải pháp |
Nội dung và biện pháp thực hiện cụ thể |
| 1. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nhân sự |
- Thành lập Ban chỉ đạo hoạt động GDNPT cấp Sở GD-ĐT và cấp trường/trung tâm. - Phân định rõ trách nhiệm của Hiệu trưởng trường THPT và Giám đốc trung tâm KTTH-HN. - Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy NPT theo chuẩn chức danh. |
| 2. Phát triển nội dung, chương trình 9 nghề địa phương |
- Biên soạn tài liệu bổ sung danh mục 9 nghề gắn với KT-XH vùng DHNTB: (1) Trồng nho và cây ăn quả đặc sản; (2) Nuôi tôm và thủy sản nước lợ; (3) Khai thác và bảo quản hải sản; (4) Chế biến nước mắm và thủy sản khô; (5) Dệt thổ cẩm Chăm; (6) Gốm mỹ nghệ Bàu Trúc; (7) Nghiệp vụ du lịch - nhà hàng; (8) Điện - Năng lượng gió, mặt trời; (9) Sửa chữa máy nổ tàu cá. - Cấu trúc chương trình gồm phần cứng của Bộ GD-ĐT và phần mềm linh hoạt của địa phương. |
| 3. Đổi mới chỉ đạo dạy học thực hành và đánh giá |
- Áp dụng giải pháp ghép 2 lớp cùng nghề thành 1 nhóm học lý thuyết tập trung nhằm tiết kiệm giờ dạy của giáo viên, dành định ngạch kinh phí tăng cường giờ dạy thực hành nhóm nhỏ. - Triển khai Quy chế quản lý học sinh thực hành NPT. - Áp dụng Thang điểm mới chấm bài thực hành tích hợp 4 tiêu chí: Kỹ năng kỹ thuật, Năng suất lao động, Ý thức an toàn lao động, Tác phong công nghiệp và Vệ sinh môi trường. |
| 4. Xây dựng cơ chế phối hợp 3 thiết chế |
- Thiết lập 3 cơ chế phối hợp giữa Trường PT - Trung tâm KTTH-HN - Doanh nghiệp: + Cơ chế pháp lý: Ký kết hợp đồng trách nhiệm đào tạo, quy định rõ nghĩa vụ quản lý và tài chính. + Cơ chế tình cảm: Xây dựng mối quan hệ gắn bó vì trách nhiệm xã hội và lợi ích con em địa phương. + Cơ chế ngành và lãnh thổ: Phối hợp liên ngành Giáo dục - Lao động Thương binh Xã hội - Hiệp hội Doanh nghiệp theo quy hoạch vùng. |
| 5. Đảm bảo nguồn lực tài chính và vật lực |
- Đa dạng hóa nguồn kinh phí: Ngân sách Nhà nước cấp, học phí bổ sung theo quy định, trích quỹ khuyến học và nguồn tài trợ của doanh nghiệp. - Xây dựng phòng thực hành dùng chung tại các trung tâm KTTH-HN để các trường THPT lân cận luân phiên sử dụng, tránh đầu tư dàn trải lãng phí. |
| 6. Hoàn thiện các hoạt động hỗ trợ và tư vấn hướng nghiệp |
- Quy trình lồng ghép tư vấn hướng nghiệp trực tiếp trong từng tiết học thực hành GDNPT theo mục tiêu kép. - Tổ chức cho học sinh tham quan dây chuyền sản xuất tại các doanh nghiệp địa phương. - Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp. |
Kết quả khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm
- Khảo nghiệm: Thăm dò ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên về tính cấp thiết và tính khả thi của 6 nhóm giải pháp. Kết quả cho thấy tỷ lệ đồng thuận đánh giá giải pháp ở mức "Rất cấp thiết" và "Khả thi cao" đạt từ 82,5% đến 94,6%.
- Thực nghiệm sư phạm tại Trung tâm KTTH-HN Phan Rang: Tiến hành trên các lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) với nghề Cắt may (sử dụng chất liệu vải thổ cẩm Chăm) và nghề Điện dân dụng:
- Đầu vào: Kết quả kiểm tra nhận thức và kỹ năng ban đầu giữa hai nhóm TN và ĐC không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
- Quá trình và đầu ra: Nhóm TN được học theo giải pháp ghép lớp lý thuyết, phân nhóm thực hành nhỏ, áp dụng quy chế thực hành và thang điểm tích hợp tác phong công nghiệp. Điểm trung bình bài thực hành đầu ra của nhóm TN đạt 8,24 ($\pm 0,68$), cao hơn rõ rệt so với nhóm ĐC đạt 7,15 ($\pm 0,82$). Tỷ lệ học sinh đạt loại giỏi về kỹ năng thực hành và định hướng nghề nghiệp ở nhóm TN vượt trội so với nhóm ĐC ($p < 0,01$).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Làm sáng tỏ và hoàn thiện hệ thống khái niệm lý luận về GDNPT và tổ chức hoạt động GDNPT trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định GDNPT là bộ phận của giáo dục kỹ thuật tổng hợp mang tính định hướng tiền nghề nghiệp, không đồng nhất với dạy nghề chuyên nghiệp.
- Khẳng định tính ưu việt và vai trò không thể thay thế của thiết chế Trung tâm KTTH-HN trong mạng lưới giáo dục quốc dân tại Việt Nam đối với công tác phân luồng và dạy nghề phổ thông.
- Xây dựng quy trình lồng ghép tư vấn hướng nghiệp trực tiếp trong quá trình dạy học nghề phổ thông nhằm thực hiện "mục tiêu kép", khắc phục tình trạng học sinh học đối phó chỉ để lấy điểm khuyến khích.
- Thiết lập khung lý thuyết về cơ chế phối hợp giữa 3 thiết chế (Trường phổ thông - Trung tâm KTTH-HN - Doanh nghiệp) thông qua 3 trụ cột: Cơ chế pháp lý, Cơ chế tình cảm và Cơ chế ngành/lãnh thổ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống dữ liệu thực chứng về thực trạng tổ chức GDNPT tại vùng DHNTB; nhận diện chính xác 8 nguyên nhân quản lý cản trở chất lượng đào tạo.
- Đề xuất quy trình quản lý dạy học thực hành tiên tiến: Giải pháp ghép 2 lớp cùng nghề học chung lý thuyết để tối ưu hóa nhân lực và thời gian; xây dựng Quy chế quản lý học sinh thực hành NPT.
- Xây dựng và chuẩn hóa Thang điểm mới chấm bài thực hành NPT, lần đầu tiên đưa các tiêu chí về an toàn lao động, vệ sinh môi trường và tác phong công nghiệp vào đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Xây dựng danh mục và cấu trúc khung chương trình cho 9 nghề phổ thông đặc thù gắn với KT-XH vùng DHNTB, phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn tài liệu giảng dạy của địa phương.
- Chứng minh hiệu quả thực tiễn của hệ thống giải pháp thông qua thực nghiệm sư phạm thành công tại Trung tâm KTTH-HN Phan Rang (tỉnh Ninh Thuận).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi khảo sát: Luận án mới chỉ tiến hành điều tra thực trạng tại 17 cơ sở giáo dục trên địa bàn 4 tỉnh (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), chưa bao quát toàn bộ 8 tỉnh/thành phố của toàn vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Phạm vi đối tượng: Đề tài giới hạn nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp 11 bậc THPT, chưa mở rộng nghiên cứu sâu đối với chương trình GDNPT lớp 8 ở bậc Trung học cơ sở (THCS).
- Địa bàn thực nghiệm: Do điều kiện thời gian và kinh phí, khâu thực nghiệm sư phạm các giải pháp mới chỉ được triển khai tập trung tại Trung tâm KTTH-HN Phan Rang (Ninh Thuận), chưa mở rộng thực nghiệm đồng thời tại các tỉnh khác trong vùng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu tổ chức hoạt động GDNPT cho học sinh cấp THCS nhằm tạo sự liên thông và định hướng phân luồng sớm ngay từ sau khi tốt nghiệp lớp 9.
- Nghiên cứu cơ chế chính sách tài chính chi tiết để thu hút các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI tại vùng DHNTB tham gia đầu tư trang thiết bị cho các trung tâm KTTH-HN.
- Nghiên cứu mô hình liên thông chứng chỉ nghề phổ thông với hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và các trường cao đẳng, trung cấp nghề theo kinh nghiệm của Australia.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ thống giáo dục và quản lý:
- Cán bộ quản lý giáo dục (Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT): Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy hoạch mạng lưới trung tâm KTTH-HN; chỉ đạo đổi mới chương trình dạy nghề địa phương và ban hành quy chế phối hợp liên ngành GD-ĐT với Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Ban Giám đốc Trung tâm KTTH-HN và Hiệu trưởng trường THPT: Tham khảo trực tiếp giải pháp ghép lớp lý thuyết, quy chế quản lý thực hành, thang điểm đánh giá kết quả tích hợp tác phong công nghiệp và quy trình lồng ghép tư vấn hướng nghiệp vào bài giảng.
- Giáo viên dạy nghề phổ thông: Sử dụng bảng phân loại mục tiêu B.S. Bloom và danh mục chương trình 9 nghề địa phương để thiết kế bài giảng, cải tiến phương pháp dạy thực hành.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học Quản lý giáo dục: Tham khảo khung lý thuyết tiếp cận vùng, phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng và bộ công cụ xử lý thống kê trong quản lý hoạt động giáo dục.
Câu hỏi thường gặp
1. GDNPT khác với đào tạo nghề chuyên nghiệp tại các trường dạy nghề ở những điểm nào?
Theo luận án, GDNPT không phải là đào tạo thợ để xếp bậc thợ kỹ thuật mà là một bộ phận của giáo dục kỹ thuật tổng hợp. GDNPT có thời lượng ngắn (105 tiết ở lớp 11 hoặc 70 tiết ở lớp 8, so với tối thiểu 650 tiết của sơ cấp nghề), sử dụng trang thiết bị phổ thông, nhằm mục tiêu kép: trang bị kỹ năng lao động ban đầu và thử thách năng lực để học sinh tự định hướng nghề nghiệp, chuẩn bị tâm thế phân luồng sau trung học.
2. Mô hình liên kết 3 thiết chế do tác giả đề xuất vận hành theo những cơ chế nào?
Mô hình phối hợp giữa Trường phổ thông, Trung tâm KTTH-HN và Doanh nghiệp vận hành dựa trên 3 cơ chế:
- Cơ chế pháp lý: Hợp đồng trách nhiệm và văn bản quy định quyền hạn, nghĩa vụ về phân bổ học sinh, kinh phí, sử dụng trang thiết bị và đánh giá.
- Cơ chế tình cảm: Sự chia sẻ trách nhiệm xã hội vì sự phát triển của thế hệ trẻ và nguồn nhân lực con em địa phương.
- Cơ chế ngành, lãnh thổ: Phối hợp quy hoạch giữa ngành Giáo dục, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, chính quyền địa phương và các hiệp hội doanh nghiệp.
3. Giải pháp ghép 2 lớp cùng nghề học lý thuyết mang lại lợi ích gì trong quản lý?
Giải pháp này cho phép ghép 2 lớp có cùng đăng ký một nghề thành 1 lớp học lý thuyết tập trung (sĩ số khoảng 80-90 học sinh đối với phần kiến thức chung). Việc này giúp giảm một nửa số tiết định mức giảng dạy lý thuyết của giáo viên, từ đó dồn kinh phí và quỹ giờ để chia nhỏ học sinh thành các nhóm (15-20 học sinh) trong các giờ học thực hành trên máy móc, nâng cao tỷ lệ tiếp xúc thiết bị và đảm bảo an toàn lao động.
4. Thang điểm mới chấm bài thực hành NPT có những tiêu chí đánh giá nào?
Khác với cách chấm điểm truyền thống chỉ chú trọng sản phẩm hoàn thành, thang điểm mới của luận án tích hợp 4 nhóm tiêu chí:
- Kỹ năng kỹ thuật và chất lượng sản phẩm: Đúng quy trình, kích thước, quy chuẩn kỹ thuật.
- Năng suất lao động: Hoàn thành đúng thời gian quy định.
- Ý thức an toàn lao động: Chấp hành nội quy, sử dụng đúng dụng cụ bảo hộ.
- Tác phong công nghiệp và vệ sinh môi trường: Sắp xếp nơi làm việc ngăn nắp, tiết kiệm nguyên vật liệu, thu dọn phế liệu và vệ sinh xưởng sau khi làm việc.
5. Những nghề địa phương nào được đề xuất bổ sung cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ?
Luận án đề xuất danh mục 9 nghề gắn với kinh tế vùng DHNTB: (1) Trồng nho và cây ăn quả đặc sản; (2) Nuôi tôm và thủy sản nước lợ; (3) Khai thác và bảo quản hải sản; (4) Chế biến nước mắm và thủy sản khô; (5) Dệt thổ cẩm Chăm; (6) Gốm mỹ nghệ Bàu Trúc; (7) Nghiệp vụ du lịch - nhà hàng; (8) Điện - Năng lượng gió, mặt trời; (9) Sửa chữa máy nổ tàu cá.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Bùi Đức Tú là công trình nghiên cứu hệ thống về công tác quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông gắn với đặc thù kinh tế - xã hội vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục kỹ thuật tổng hợp, khẳng định vị trí của trung tâm KTTH-HN và xây dựng mô hình liên kết ba bên giữa nhà trường, trung tâm và doanh nghiệp. Hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ từ đổi mới chương trình 9 nghề địa phương, cải tiến tổ chức dạy học thực hành, ban hành thang điểm tác phong công nghiệp đến lồng ghép tư vấn hướng nghiệp đã được kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm tại Ninh Thuận, cung cấp luận cứ khoa học cho việc phân luồng học sinh và phát triển nguồn nhân lực tại địa phương.