CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 1. Quan niệm về chính quyền địa phương ở Việt Nam Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm chính quyền địa phương được sử dụng để chỉ tổ chức và hoạt động của hai cơ quan là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Nghị quyết lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) ngày 18 tháng 6 năm 1997 tại phần III, mục 4 về tiếp tục cải cách hành chính nhà nước đối với chính quyền địa phương chỉ đề cập tới việc kiện toàn củng cố Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp và hướng cải cách tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này mà không đề cập tới các cơ quan nhà nước khác trong hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương. Các bản Hiến pháp năm: 1946; 1959; 1980; 1992; 2013 đều có quy định về tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, quan niệm về chính quyền địa phương qua từng bản hiến pháp có sự điều chỉnh qua từng thời Các bản Hiến Năm Năm 1946 Năm 1980 Năm 1992 Năm 2013 pháp 1959 - Phân biệt giữa - Có sự phân cấp CQ địa biệt cấp phương hoàn chính quyền chỉnh và cấp chính hoàn chỉnh Tổ chức quyền địa phương và không - Không - Không - Không Chính quyền không hoàn chỉnh. phân biệt phân biệt phân biệt ở địa phương Đ110, 111 HP - Phân biệt 2013. được địa bàn - Phân biệt được nông thôn và địa bàn nông thôn đô thị và đô thị. 4 Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015, quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính.
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: 1. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh). Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện). Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Tổng quan về chính quyền địa phương thị xã Quảng Yên. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Thị xã Quảng Yên nằm ven biển thuộc phía tây nam của tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ địa lý 20o45'06 - 21o02'09 vĩ độ Bắc. và 106o45'30 - 106o0'59 độ kinh Đông[4].
Phía đông giáp với thành phố Hạ Long và Vịnh Hạ Long, phía tây và nam giáp huyện Thủy Nguyên, huyện Cát Hải của thành phố Hải Phòng, phía bắc giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ[4]. Đây là địa phương có dự án Đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh đi qua. - Điều kiện tự nhiên Thị xã Quảng Yên có đặc điểm địa hình và đất đai của một đồng bằng cửa sông ven biển, có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Đất đai tại Quảng Yên nhìn chung có thể chia thành 3 nhóm đất chính là đồng bằng, đồi núi và đất bãi bồi cửa sông[5].
Trong đó, đất đồng bằngchiếm 44,% diện tích, gồm chủ yếu là đất phù sa cổ và đất phù sa cũ nằm trong đê. Vùng đồi núi chiếm 18,3% diện tích, phân bố ở khu vực phía Bắc, bao gồm chủ yếu là các loại đất feralit vàng đỏ trên đá macma axit và đất 5 feralit nâu vàng, xám vàng trên các đá trầm tích phiến thạch, sa thạch, đá vôi. Đất bãi bồi cửa sông, ven biển gồm các loại đất mặn và đất cát chiếm 37,1% diện tích, phân bố ở các khu vực ven biển và cửa sông[5]. Quảng Yên có khí hậu đặc trưng của vùng ven biển miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh.
Thời tiết nơi đây phân hóa thành 2 mùa gồm mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, trái ngược là mùa đông lạnh và khô. Trong đó, Mùa hè thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, Mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 đến 24oC, Số giờ nắng trung bình 1700 - 1800 h/năm. Lượng mưa trung bình hàng năm gần 2000 mm, cao nhất có thể lên đến 2600 mm.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 tập trung 88% tổng lượng mưa cả năm, số ngày mưa trung bình hàng năm 160 - 170 ngày. Độ ẩm không khí hàng năm khá cao, trung bình 81%, cao nhất vào tháng 3, 4 lên tới 86%, và thấp nhất 70% vào tháng 10, tháng 11. Với những lợi thế về thời tiết, Khí hậu Quảng Yên rất thuận lợi cho sản xuất nông lâm ngư nghiệp và phát triển du lịch. Điều kiện kinh tế.
Năm 2012, do thời tiết nắng nóng, mưa lớn thất thường nên tình hình nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn thị xã Quảng Yên gặp nhiều khó khăn [7]. Tuy nhiên, Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt hơn 5.680 tấn, trong đó sản lượng tôm nuôi đạt hơn 2. Tình hình kinh tế xã hội 8 tháng đầu năm 2012, tren địa bàn thị xã Quảng Yên, gặp nhiều khó khăn, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nên số thu thực hiện thấp. Do vậy, khả năng hụt thu ngân sách trong năm 2012, là 4,568 tỷ, tăng thu thuế vãng lai là 4 tỷ đồng, thu tiền thuê đất tăng 1 tỷ đồng và một số chỉ tiêu thu khác đạt 1,56 tỷ đồng.
Tính đến hết tháng 10, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 208 tỷ đồng. Tất cả các 6 khoản thu đều vượt kế hoạch, trong đó Thu ngân sách nhà nước đạt trên 109 tỷ đồng, thu ngoài cân đối ngân sách đạt trên 99 tỷ đồng. Chính quyền địa phương ở thị xã Quảng Yên Trụ sở HĐND và UBND thị xã Quảng Yên đặt ở ngay trung tâm thị xã Quảng Yên. Chính quyền địa phương ở thị xã Quảng Yên gồm có HĐND và UBND thị xã.
HĐND thị xã Quảng Yên là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, gồm có 41 đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri trên địa bàn thị xã bầu ra. HĐND thị xã Quảng Yên có cơ cấu tổ chức như sau: - 01 Chủ tịch HĐND. - 02 Phó chủ tịch HĐND. - Ban Kinh tế - Xã Hội.
- Ban Pháp chế. - Tổ Đại biểu HĐND. UBND thị xã Quảng Yên là cơ quan quản lý hành chính thẩm quyền chung, là cơ quan chấp hành của HĐND thị xã, do HĐND thị xã bầu ra thực chức năng quản lý về mọi mặt trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với các cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp việc trên từng ngành, lĩnh vực gồm: - 01 Chủ tịch UBND. - 03 Phó chủ tịch UBND.
- Các Ủy viên Ủy ban. - 12 đơn vị Quản lý hành chính Nhà nước. - 06 đơn vị sự nghiệp. 7 CHƯƠNG 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 2.
Hội đồng nhân dân thị xã 2. Cơ cấu tổ chức HĐND thị xã Quảng Yên là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, gồm có 41 đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri trên địa bàn thị xã bầu ra. HĐND thị xã Quảng Yên có cơ cấu tổ chức như sau: - 01 Chủ tịch HĐND. - 02 Phó chủ tịch HĐND.
- Ban Kinh tế - Xã Hội. - Ban Pháp chế. - Tổ Đại biểu HĐND. Danh sách Đại biểu HĐND thị xã Quảng Yên khóa XIX Nhiệm kỳ 2016-2021 STT Họ và tên Chức vụ 1 Nguyễn Văn Vinh Bí thư thị ủy 2 Nguyễn Văn Hồi PBT Thường trực , CT HĐND 3 Trần Đức Thắng Chủ tịch UBND 4 Đỗ Đức Mạnh Phó chủ tịch HĐND 5 Nguyễn Thị Hằng Phó chủ tịch UBND 6 Hà Quang Thắng Phó chủ tịch UBND 7 Vũ Văn Lai Phó chủ tịch UBND 8 Vũ Văn Khôi Chủ tịch UB MTTQ 8 9 Đinh Văn Tứ Trưởng Ban Tuyên giáo thị ủy 10 Nguyễn Thị Nhung Trưởng Ban Tổ chứcthị ủy 11 Nguyễn Triều Chủ nhiệm UBKT thị ủy 12 Trần Thị Luyến Trưởng Ban Dân vận thị ủy 13 Đinh Văn Công Trưởng Công an thị xã 14 Nguyễn Văn Sáng Trưởng Ban Kinh tế - Xã hội HĐND 15 Trần Văn Linh Chánh Văn phòng thị ủy 16 Đỗ Văn Học Trưởng phòng LĐTB&XH 17 Vũ Hải Âu Chánh Thanh tra Nhà nước 18 Nguyễn Văn Hợp Chủ tịch Hội Cựu chiến binh 19 Phạm Văn Đoan Chủ tịch Hội nông dân 20 Nguyễn Kim Cự Phó Chủ tịch HĐND 21 Tô Văn Hòa Bí thư đoàn 22 Trần Trọng Thắng Phó Ban Pháp chế HĐND 23 Nguyễn thị Hoa Phó trưởng phòng GD-ĐT 24 Hà Văn Thắng HUV, Phó chủ tịch Hội LHPN 25 Nguyễn Văn Đồng Phó TP Nội vụ Về việc tiếp xúc cử chi : Tiếp xúc cử chi chủ yếu thực hiện trước và sau kì họp.Việc tiếp xúc cử chi theo giới, ngành, chuyên đề và tiếp xúc cử chi giữa hai kì họp rất ít khi được tổ chức thực hiện Ở Hội đồng nhân dân xã .Tình trạng “ cử tri chuyên nghiệp” “ cử tri đại diện” “ đại cử tri” đến tham 9 dự hội nghị tiếp xúc cử tri ( theo giấy mơi) diễn ra phổ biến.
Hiên tượng số khách mời tới dự hội nghị tiếp xúc cử tri nhiều hơn hoặc bằng bằng số cử tri xảy ra ở hầu hết tất cả các xã.Có nơi, Hội nghị tiếp xúc của tri chung cho 2 hoặc 3 đơn vị bầu cử ở cùng một địa điểm ; thành phần của tri được mời thường là địa diện cấp ủy Đảng, các trưởng ,Phó đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và một số cử tri tích cức ở các cụm dân cư.Cách tổ chức như vậy có thể đáp ứng thời gian, tạo điều kiện lãnh dạo địa phương có điều kiện tham dự hết các cuộc tiếp xúc cử tri, song nó lại mang tính hình thức và khó có thể đạt được hiệu quả như mong muốn .Ở nhiều nơi, lãnh đạo Mặt trận tổ quốc xã chưa phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan trong việc chuẩn bị và trủ trì hội nghị tiếp xúc cử tri, do đó hiệu quả chưa cao.Nhiều đại biểu Hội đồng nhân dân xã đến tiếp xúc cử tri một cách thụ động , không có sự chuẩn bị trước, do đó hầu như chỉ ngồi nghe, ghi nhận ý kiến , kiến nghị, ít khi có sự trao đổi trục tiếp với cử tri.Ủy ban nhân dân ít khi phân công lãnh đạo dự hội nghị tiếp xúc cử tri ở cac đơn vị bầu cử, nên những ý kiến của cử tri thuộc quyền của Ủy ban nhân dân không được trả lời tại chỗ, gây thất vọng cho cử tri.