phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của DHHT TN Chƣơng 2: Tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm chƣơng “ Dòng điện không đổi” Vật lí 11 THPT. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC HỢP TÁC THEO NHÓM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Dạy học hợp tác theo nhóm là một phƣơng pháp dạy học tích cực, phát huy tính năng động sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh.
Khi làm việc nhóm, học sinh và giáo viên đều gặp những khó khăn nhất định.Tuy nhiên nếu giáo viên biết cách chia nhóm, tổ chức và điều khiển hoạt động thì sẽ phát huy đƣợc các mặt mạnh, khắc phục mặt yếu của hoạt động nhóm, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.Từ thế kỷ XVIII, lý thuyết về học tập hợp tác đã thực hiện khá phổ biến ở các nƣớc tƣ bản.Thời kỳ này có Joseph Lancaster và Andrew Bell đã thực nghiệm và triển khai rộng rãi việc học tập hợp tác theo nhóm ở Anh quốc. Ở Mỹ đã đề cao học tập hợp tác từ khoảng cuối thế kỷ XIX. Một trong những ngƣời đầu tiên rất thành công khi chủ trƣơng đƣa ý tƣởng hợp tác vào lớp học đó là Francis Parker. Ông nhận thấy quá trình học tập đƣợc thực hiện trên tinh thần chia sẻ nhóm, lớp học có cả tình cảm và trí tuệ thì việc học tập không bao giờ nhàn chán và niềm vui lớn nhất của HS là cùng nhau chia sẻ thành quả học tập với các bạn trong lớp học với tinh thần giúp đờ lẫn nhau [dẫn theo 17].
Tiếp tục ý tƣởng của Parker là James Coleman (1959), ông nhận thấy tầm quan trọng của cách DH theo kiểu học hợp tác khi tiến hành nghiên cứu các hành vi của HS ở lứa tuổi thanh niên, ông đề xuất thay việc lập các tình huống khuyến khích cạnh tranh trong học tập để tạo ra các hoạt động giúp HS cùng nhau hợp tác [26]. Alert Bandura đƣa ra lý thuyết học tập mang tính xã hội “Sự làm việc đồng đội”, lý thuyết này đƣợc xây dựng trên nguyên tắc phổ biến, HS nỗ lực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ thực hiện những nhiệm vụ thì sẽ đƣợc khen thƣởng, còn nếu không hoàn thành sẽ không đƣợc khen hoặc bị chê. Tƣ tƣởng chính của thuyết này là khi cá nhân làm việc cùng nhau hƣớng tới mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ thúc đẩy hoạt động học tập tích cực hơn, qua đó giúp nhóm và chính bản thân mình đạt đến kết quả học tập mong muốn [21]. Jean Piaget với học thuyết “Sự giải quyết mâu thuẫn” cho rằng, để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ cho HS, GV sắp đặt từng cặp HS có quan điểm đối lập với nhau về cách giải quyết vấn đề thành một nhóm và yêu cầu từng cặp hai em này hoạt động cùng nhau cho đến khi nhất trí hoặc có câu trả lời chung thì khi đó mới đi đến kết luận về bài học.
Sau khi các em thống nhất, GV KT riêng từng em và luôn thấy rằng những em lúc đầu còn kém cỏi về một vấn đề nào đó thì bây giờ có thể tự mình giải quyết một cách đúng đắn, không khác với cách giải quyết của bạn mình. Đôi khi GV cũng dạy trẻ theo từng đôi một nhằm mục đích cho trẻ bắt chƣớc cách giải quyết đúng một vấn đề, hoặc cũng có thể dạy trẻ với sự chứng kiến khác, để chúng học cách tìm ra nguyên nhân theo hƣớng phát triển [12]. Dựa trên quan điểm của Mác – Lê Nin về giáo dục, nhiều nhà khoa học ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu trƣớc đây đã đi sâu nghiên cứu về dạy học hợp tác và áp dụng thành công trong thực tiễn giáo dục. Trƣớc tiên có thể kể đến công trình nghiên cứu của Vƣgôtsky.
Theo Ông, mọi chức năng tâm lý cao cấp đều có nguồn gốc xã hội và xuất hiện trƣớc hết ở cấp độ liên cá nhân, trƣớc khi đƣợc chuyển vào trong và tồn tại ở cấp độ nội cá nhân. Ông cho rằng “Trong sự phát triển của trẻ, mọi chức năng tâm lý cao cấp đều xuất hiện hai lần, lần thứ nhất nhƣ là một hoạt động tập thể, một hoạt động xã hội, nghĩa là nhƣ một chức năng liên tâm lý; lần thứ hai nhƣ là một hoạt động cá nhân, nhƣ là một chức năng tâm lý bên trong”. Vƣgôtsky đã đƣa ra khái niệm xây dựng lý thuyết về vùng phát triển gần, theo đó dạy học chỉ có hiệu quả về vùng phát triển khi tác động của nó nằm ở vùng phát triển gần HS. Phải làm sao kích thích và làm thức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ tỉnh qua trình chuyển vào trong và hoạt động bên trong của đứa trẻ và những quá trình nhƣ vậy chỉ diễn ra trong phạm vi mối quan hệ với ngƣời xung quanh và sự hợp tác của bạn bè.
Các quá trình hƣớng nội này sẽ tạo nên những kết quả bên trong của bản thân trẻ. “Điều trẻ em cùng với nhau ngày hôm nay, chúng sẽ tự làm đƣợc vào ngày mai”. Quan điểm của Vƣgôtsky đã chỉ ra sự cần thiết của mối quan hệ tƣơng tác giữa ngƣời học với môi trƣờng, giữa ngƣời học với nhau [27]. Ngƣời có ảnh hƣởng lớn trong lịch sử DHHT TN là Kurt Lewin - một nhà tâm lý học xã hội.
Ông đề ra: Thuyết phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội dựa trên cơ sở của Kurt Koffka, ngƣời đã đề xuất khái niệm “Nhóm là phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên”. Trong thập niên 1920 – 1930. Kurt Lewin đã đƣa ra khái niệm nhóm phải có hai yếu tố (1). Phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên, nhóm phải năng động hơn, có tác động tích cực đến các thành viên.
Tình trạng căng thẳng giữa các thành viên trong nhóm sẽ là động lực để thúc đẩy hoàn thành mục tiêu. Trong những năm 1940, ông đã nghiên cứu các hành vi, cách cƣ xử của các vị lãnh đạo và các thành viên của nhóm là dân chủ. Ông kết luận để hoàn thành mục tiêu chung của một nhóm thì phải thúc đẩy sự hợp tác, cạnh tranh. Một vài học trò của ông đã kế thừa dòng nghiên cứu này.
Morton Deutsch là ngƣời đi đầu phong trào trong việc nghiên cứu mối quan hệ “Hợp tác” và “Cạnh tranh”, các công trình của Deutsch đã trải dài từ các nghiên cứu về tính hiệu quả của nhóm trong môi trƣờng đối đầu và đối thoại cho giải pháp xung đột. Thế hệ thứ 2 của tƣ tƣởng Lewin là một số nhà tâm lí học và giáo dục nhƣ: Aron Son, hai anh em nhà Johnson. Đặc biệt là Euit Aron Son với mô hình lớp học Jigsaw đƣợc đƣa vào sử dụng đầu tiên vào năm 1971 ở Austin Texas. Jigaw đƣợc xây dựng dựa trên nhu cầu thiết yếu lúc bây giờ, giảm sự căng thẳng xung đột giữa các học sinh khác màu da và loại bỏ cạnh tranh cá nhân trong lớp học.
Mô hình này yêu cầu HS phải biết chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau để cả nhóm học tập đạt kết quả tốt nhất. Jigsaw đã đánh dấu một bƣớc ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức tổ chức hoạt động hợp tác trong DH. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Tác giả Palincsar và Brown xây dựng và phát triển phƣơng pháp dạy lẫn nhau. Theo phƣơng pháp này, HS và GV thay nhau đóng vai trò ngƣời dạy sau khi cùng nghiên cứu tài liệu học tập, GV làm mẫu đƣa ra các cách thức, nêu ra các vấn đề, đặt câu hỏi, cách phân tích làm sáng tỏ vấn đề.
HS học cách làm của GV và áp dụng vào nhóm học tập của mình. Các thành viên khác trong nhóm tham gia và thảo luận bằng cách nêu ra các câu hỏi, câu trả lời cho các câu hỏi đó, bình luận, tìm kiếm những từ ngữ chính xác, thích hợp, khái quát và rút ra những kết luận. Vai trò của các thành viên đƣợc luân phiên thay đổi [dẫn theo14].Johnson đã phát biểu “Nơi nào thật sự áp dụng DH hợp tác và học tập hợp tác thì nơi đó HS được học nhiều hơn, nhà trường dường như tốt hơn, HS thân thiện với nhau hơn, tự trọng hơn và học các kỹ năng xã hội có hiệu quả hơn”. Theo tài liệu “Learning together and alone” (Học cùng nhau và học một mình).
Trong đó mỗi lớp học, GV có thể xây dựng bài học cho HS làm việc một cách hợp tác trong nhóm nhỏ, bảo đảm mọi thành viên nắm vững tài liệu đƣợc giao, gắn với cuộc tranh đua xem ai nhất, làm việc một cách độc lập với mục tiêu học tập riêng, với bƣớc đi và nhịp điệu riêng nhằm đạt các tiêu chí đƣợc đặt ra từ trƣớc mức độ xuất sắc [24]. Vào năm 1989 cũng hai anh em nhà Johnson đã khảo sát và nghiên cứu 193 trƣờng hợp, họ nhận thấy: Học hợp tác thì HS học hỏi đƣợc nhiều hơn so với cách học truyền thống. Trƣớc đó ông và các đồng nghiệp đã phân tích 122 nghiên cứu về học hợp tác ở một số môn học và ở các độ tuổi khác nhau từ tiểu học cho đến trung học và xử lí kết quả học tập bằng phƣơng pháp đo lƣờng, là toàn bộ những hoạt động học tập mà HS thực hiện cùng nhau trong một nhóm, trong hoặc ngoài phạm vi lớp học [25]. Năm 1984 Palincsar đƣa ra phƣơng pháp DH tƣơng hỗ đó là một chiến thuật làm việc hợp tác theo nhóm, trong đó HS đóng vai trò “giáo viên” và cùng với nhóm tìm hiểu ý nghĩa của một bài học.
GV và HS tham gia đối thoại về các phần khác nhau của bài học. GV yêu cầu mỗi HS trong nhóm làm một Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ nhiệm vụ học tập. HS có nhiệm vụ làm rõ, hoặc dự đoán những kiến thức liên quan đến bài học. “Giáo viên” của nhóm sẽ đƣa ra một câu hỏi.
“Giáo viên” là nhóm trƣởng và sẽ là ngƣời đƣa ra câu hỏi trƣớc tiên. Một thành viên khác trong nhóm trả lời câu hỏi dựa vào nội dung bài học. Sau đó, HS này lại đặt câu hỏi cho một thành viên khác và cứ tiếp tục nhƣ vậy cho đến khi hoàn thành nội dung bài học. Năm 1996, lần đầu tiên PPDH hợp tác đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình học chính thức hàng năm ở một số trƣờng đại học ở Mỹ.