mở đầu này khi Luật kế toán Việt Nam được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn vị như sau: “KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4). Tuy nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát. Đến ngày 12/6/2006, thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng KTQT trong DN chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT. Từ khi ra đời đến nay KTQT vẫn mò mẫm lối đi, vẫn chưa có một tổ chức nào có đủ chuyên môn và kinh nghiệm chuyên tư vấn xây dựng hệ thống KTQT.
Còn đối với các DN, thì KTQT vẫn còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành. Vai trò của kế toán quản trị Quản trị là một phương thức làm cho những hoạt động tiến tới mục tiêu của tổ chức được hoàn thành với hiệu quả cao. KTQT bao gồm 4 vai trò chính: Vai trò của KTQT phục vụ chức năng hoạch định (planning): Theo Bamber et al (2008) thì vai trò phục vụ chức năng hoạch định là thiết lập mục tiêu cho tổ chức và xác định con đường để thực hiện chúng, bằng việc chọn cách triển khai hành động cụ thể. Vai trò của KTQT phục vụ chức năng tổ chức – điều hành (organizing – directing): Theo Bamber et al (2008) thì vai trò phục vụ chức năng tổ chức – điều hành là “triển khai và giám sát các hoạt động của tổ chức hằng ngày - overseeing the company's day-to-day operations”, theo dõi việc thực hiện các kế hoạch để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Ngoài ra, sau khi lên kế hoạch, tổ chức cần phải hướng dẫn cụ thể cách thực hiện mục tiêu đó. Vai trò của KTQT phục vụ chức năng kiểm soát (controlling) là "đánh giá các kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức, so sánh và điều chỉnh giữa kế hoạch và thực hiện để luôn hướng đúng với mục tiêu của tổ chức – evaluating the results 15 of business operations against the plans and making adjustment to keep the company pressing towards its goals" (Bamber et al, 2008). Nói cách khác, giữa việc lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cần phải được kiểm soát để đảm bảo hiệu quả đề ra (Mohammad, A. Vai trò của KTQT phục vụ chức năng ra quyết định (decision making): KTQT liên quan đến việc hoạch định, tổ chức – điều hành và kiểm soát, điều này có nghĩa là chúng đang tham gia vào quá trình ra quyết định, đây chính là vai trò còn lại của KTQT (Mohammad, A.
Theo Mohammad Ahid & Ayuba Augustine, bốn chức năng này phụ thuộc và liên kết chặt chẽ với nhau. Mối liên kết này được thể hiện qua sơ đồ 1.1 như sau: Hoạch định Tổ chức - Điều hành Ra quyết định Kiểm soát Phản hồi Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa các chức năng trong kế toán quản trị Nguồn: Mohammad Ahid &Ayuba Augustine. The Roles and Responsibilities of Management Accountants in the Era of Globalization.
Global Journal of Management and Business Research, Vol. Các nội dung cơ bản của kế toán quản trị 1. Hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí 1. Phân loại chi phí Sau khi tham khảo báo cáo của IFAC (1998) với tên gọi “Management accounting concepts: International Management Accounting Practice Statement” và nghiên cứu của Ashish Lodha (2013) về “Cost – M ethods, Techniques of Cost Accounting and Classification of Cost”, tác giả khái quát lại cách phân loại chi phí theo các tiêu thức phân loại cơ bản sau: (1) theo chức năng hoạt động, (2) theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động 16 kinh doanh, (3) theo phương pháp quy nạp, (4) sử dụng trong đánh giá thành quả quản lý, (5) theo cách ứng xử của chi phí.
Cách phân loại này được khái quát qua sơ đồ 1. như sau: TIÊU THỨC PHÂN LOẠI CÁC LOẠI CHI PHÍ THEO CHỨC NĂNG - Chi phí sản xuất HOẠCH ĐỘNG - Chi phí ngoài sản xuất THEO MỐI QUAN - Chi phí sản phẩm HỆ VỚI THỜI KỲ - Chi phí thời kỳ XÁC ĐỊNH THEO PHƯƠNG - Chi phí trực tiếp PHÁP QUY NẠP - Chi phí gián tiếp SỬ DỤNG TRONG - Chi phí kiểm soát được ĐÁNH GIÁ THÀNH - Chi phí không kiểm QUẢ QUẢN LÝ soát được THEO CÁCH ỨNG - Biến phí XỬ CỦA CHI PHÍ - Định phí - Chi phí hỗn hợp Sơ đồ 1.2: Phân loại chi phí (1) Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động Chi phí sản xuất (production cost) là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Hoạt động của một DN sản xuất gắn liền với sự chuyển biến của nguyên liệu thành thành phẩm thông qua sự nỗ lực của công nhân và việc sử dụng thiết bị sản xuất, do đó CPSX của một sản phẩm trong các DN sản xuất được tạo thành từ ba yếu tố cơ bản sau: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phí SXC. Chi phí ngoài sản xuất (non-production cost) là những loại chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên quan đến việc quản lý chung toàn DN và tiêu thụ sản 17 phẩm hàng hoá, chi phí ngoài sản xuất bao gồm chi phí BH và chi phí QLDN.
(2) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động kinh doanh Chi phí sản phẩm (product cost) là toàn bộ những chi phí liên quan đến việc sản xuất hoặc mua các sản phẩm. Đối với các sản phẩm sản xuất công nghiệp thì các chi phí này bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phí SXC. Các chi phí sản phẩm được gắn liền với sản phẩm và chúng được chuyển sang kỳ sau khi sản phẩm đang còn tồn kho chờ bán và khi sản phẩm đã được tiêu thụ thì chúng được xem là phí tổn thời kỳ và được tính trừ vào kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ. Chi phí thời kỳ (period cost) là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và được tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Chi phí BH và chi phí QLDN là những chi phí thời kỳ. Chi phí thời kỳ sẽ được tính đầy đủ trên các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị. Chi phí thời kỳ ngay khi phát sinh đã được coi là phí tổn trong kỳ. (3) Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp Chi phí trực tiếp (direct cost) là những chi phí khi phát sinh được tính trực tiếp vào các đối tượng sử dụng như: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp, nó được tính thẳng vào từng đơn đặt hàng, từng nhóm sản phẩm, từng sản phẩm… Chi phí gián tiếp (indirect cost) là những chi phí khi phát sinh không thể tính trực tiếp vào các đối tượng sử dụng, mà cần phải tiến hành phân bổ theo một tiêu thức phù hợp.
Ví dụ như chi phí SXC sẽ được phân bổ cho các đối tượng sử dụng theo giờ lao động trực tiếp, số giờ máy, số lượng sản phẩm sản xuất… (4) Phân loại chi phí sử dụng trong đánh giá thành quả quản lý Chi phí kiểm soát được (controllable cost) đối với một cấp quản lý là những chi phí mà nhà quản trị cấp đó được quyền ra quyết định. Chi phí không kiểm soát được (non-controllable cost) là chi phí mà nhà quản trị cấp đó không được quyền ra quyết định. (5) Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 18 Việc xem xét chi phí sẽ thay đổi như thế nào khi mức độ hoạt động thay đổi gọi là sự ứng xử của chi phí. Dựa trên cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động có thể chia toàn bộ chi phí thành ba loại: Biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp.
Biến phí (variable cost) là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo sự tăng giảm về mức độ hoạt động. Tổng số của biến phí sẽ tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại. Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động thì biến phí lại không đổi trong phạm vi phù hợp. Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động.
Biến phí được phân thành các loại sau: Biến phí tuyến tính, biến phí cấp bậc và biến phí phi tuyến. Định phí (fixed cost) là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. Nên khi mức độ hoạt động tăng thì phần định phí tính trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi và ngược lại. Định phí có thể chia thành hai loại như sau: Định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc.
Chi phí hỗn hợp (semi-variable cost or semi-fixed cost) là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu tố khả biến. Ở mức độ hoạt đông căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của biến phí. Sự pha trộn giữa định phí và biến phí có thể theo những tỷ lệ nhất định. Để xác định thành phần biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp, có ba phương pháp cơ bản thường được sử dụng là phương pháp cực đại – cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất.
Phân tích biến động chi phí Để kiểm soát được chi phí, các nhà quản trị cần phải phân tích sự biến động của chi phí, xem các loại CPTT đã phát sinh tăng giảm như thế nào so với dự toán, đồng thời tìm hiểu được nguyên nhân của sự tăng giảm đó để có thể đề ra những giải pháp kịp thời. Theo Huỳnh Lợi (2012), phân tích sự biến động của chi phí trong DN gồm 4 bước như sau: Bước 1: Xác lập chỉ tiêu phân tích 19 Xác định rõ nội dung chi phí cần phân tích và biểu diễn chi phí thành một biểu thức toán học trong mối liên hệ với nhiều nhân tố cần xem xét đánh giá. Bước 2: Xác định đối tượng phân tích Đối tượng phân tích là những biến động của chỉ tiêu cần phân tích, ở đây chính là chênh lệch của chỉ tiêu chi phí cần phân tích giữa thực tế so với dự toán.