CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN 1. HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN. Các khái niệm cơ bản về hạ tầng GTNT: Cơ sở hạ tầng: là tổng thể các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và kiến trúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế, xã hội được diễn ra một cách bình thường. Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm: cơ sở hạ tầng kinh tế và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Cơ sở hạ tầng kinh tế là những công trình phục vụ sản xuất như bến cảng, điện, giao thông, sân bay… Cơ sở hạ tầng xã hội là toàn bộ các cơ sở thiết bị và công trình phục vụ cho hoạt động văn hóa, nâng cao dân trí, văn hóa tinh thần của dân cư như trường học, trạm xá, bệnh viện, công viên, các khu vui chơi giải trí… Cơ sở hạ tầng nông thôn: là một bộ phận của tổng thể cơ sở hạ tầng vật chất – kỹ thuật nền kinh tế quốc dân. Đó là những hệ thống thiết bị và công trình vật chất – kỹ thuật được tạo lập phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp, tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực này và trong lĩnh vực nông nghiệp. Nội dung tổng quát của cơ sở hạ tầng nông thôn có thể bao gồm những hệ thống cấu trúc, thiết bị và công trình chủ yếu sau: Hệ thống và các công trình thủy lợi, thủy nông, phòng chống thiên tai, bảo vệ và cải tạo đất đai, tài nguyên, môi trường trong nông nghiệp nông thôn: đê điều, kè đập, cầu cống và kênh mương thủy lợi, các trạm bơm… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Mạng lưới và thiết bị phân phối, cung cấp điện, mạng lưới thông tin liên lạc… Những công trình xử lý, khai thác và cung cấp nước sạch sinh hoạt cho dân cư nông thôn. Mạng lưới và cơ sở thương nghiệp, dịch vụ cung ứng vật tư, nguyên vật liệu… mà chủ yếu là những công trình chợ và tụ điểm giao lưu buôn bán.
Cơ sở nghiên cứu khoa học, thực hiện và chuyển giao công nghệ kỹ thuật; trạm trại sản xuất và cung ứng giống vật nuôi, cây trồng. Nội dung của cơ sở hạ tầng nông thôn cũng như sự phân bố, cấu trúc trình độ phát triển của nó có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, quốc gia cũng như giữa các địa phương, vùng lãnh thổ của đất nước. Tại các nước phát triển, cơ sở hạ tầng nông thôn còn bao gồm cả các hệ thống, công trình cung cấp gas, khí đốt, xử lý và làm sạch nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp, cung cấp cho nông dân nghiệp vụ khuyến nông. Hệ thống GTNT bao gồm: hạ tầng GTNT, phương tiện vận tải và người sử dụng.
Như vậy, cơ sở hạ tầng GTNT chỉ là một bộ phận của hệ thống GTNT. GTNT không chỉ là sự đi lại của người dân nông thôn và hàng hóa của họ, mà còn là các phương tiện để cung cấp đầu vào sản xuất và các dịch vụ hỗ trợ của khu vực nông thôn của các thành phần kinh tế. Đối tượng hưởng lợi ích trực tiếp của hệ thống GTNT sau khi xây dựng mới, nâng cấp là người dân nông thôn, bao gồm các nhóm người có nhu cầu và ưu tiên đi lại khác nhau như nông dân, doanh nhân, người không có ruộng đất, cán bộ công nhân viên của các đơn vị phục vụ công cộng làm việc ở nông thôn… Hệ thống kết cấu hạ tầng GTNT bao gồm: Mạng lưới đường GTNT là bộ phận giao thông địa phương nối tiếp với hệ thống đường quốc lộ, đường tỉnh nhằm đảm bảo các phương tiện cơ giới loại trung, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nhẹ và thô sơ qua lại, phục vụ sản xuất và phục vụ giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội của các làng xã, thôn xóm. Đường GTNT là đường cấp huyện trở xuống, bao gồm đường huyện, đường liên xã, đường trục xã, đường liên thôn, đường trong thôn xóm, đường nội đồng, đường khu vực sản xuất, đường dân sinh.
Đường huyện là đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Đường xã là đường nối trung tâm hành chính của xã với các thôn, làng, ấp, bản và đơn vị tương đương hoặc đường nối với các xã lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã. Đường thôn: chủ yếu phục vụ sự đi lại của người dân và lưu thông hàng hóa trong phạm vi của thôn, làng, ấp, bản; kết nối và lưu thông hàng hóa tới các trang trại, ruộng đồng, nương rẫy, cơ sở sản xuất, chăn nuôi. Đường nối với khu vực sản xuất: chủ yếu phục vụ sự đi lại của người dân và lưu thông nguyên vật liệu, hàng hóa đến các cơ sở sản xuất, chăn nuôi, gia công, chế biến nông lâm thủy sản; vùng trồng cây công nghiệp; cánh đồng mẫu lớn; làng nghề; trang trại và các cơ sở tương đương.
Đường dân sinh: chủ yếu phục vụ sự đi lại của người dân giữa các cụm dân cư, các hộ gia đình và từ nhà đến nương rẫy, ruộng đồng, cơ sở sản xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ… Phương tiện giao thông trên các tuyến đường dân sinh chủ yếu là xe đạp, xe mô tô hai bánh… Các hạ tầng giao thông ở mức độ thấp (các tuyến đường mòn, đường đất và các cầu, cống không cho xe cơ giới đi lại mà chỉ cho phép người đi bộ, xe đạp, xe máy… đi lại). Các đường mòn và đường nhỏ cho người đi bộ, xe đạp, xe thồ, xe súc vật kéo, xe máy và đôi khi cho xe lớn hơn, có tốc độ thấp đi lại là một phần mạng lưới giao thông, giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân. Đặc điểm của kết cấu hạ tầng GTNT: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Hạ tầng GTNT gắn liền với mọi hệ thống kinh tế, xã hội. Hạ tầng GTNT là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vừa phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội của nông thôn.
So với các hệ thống kinh tế, xã hội khác, hạ tầng GTNT có những đặc điểm sau: Tính hệ thống, đồng bộ: Hạ tầng GTNT là một hệ thống cấu trúc phức tạp phân bố trên toàn lãnh thổ, trong đó có những bộ phận có mức độ và phạm vi ảnh hưởng cao thấp khác nhau tới sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nông thôn, của vùng và của làng, xã. Tuy vậy, các bộ phận này có mối liên hệ gắn kết với nhau trong quá trình hoạt động, khai thác và sử dụng. Do vậy, việc quy hoạch tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng GTNT, phối hợp kết hợp giữa các bộ phận trong một hệ thống đồng bộ, sẽ giảm tối đa chi phí và tăng tối đa công dụng của các cơ sở hạ tầng GTNT cả trong xây dựng cũng như trong quá trình vận hành, sử dụng. Tính chất đồng bộ, hợp lý trong việc phối hợp, kết hợp các yếu tố hạ tầng GTNT không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về xã hội và nhân văn.
Tính hợp lý của các công trình này đem lại sự thay đổi lớn trong cảnh quan và có tác động tích cực đến các sinh hoạt của dân cư trong địa bàn. Tính định hướng: Đặc trưng này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau của vị thế hệ thống GTNT: đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, mở đường cho các hoạt động kinh tế, xã hội phát triển… Đặc điểm này đòi hỏi trong phát triển kết cấu hạ tầng GTNT phải chú trọng những vấn đề chủ yếu: Cơ sở hạ tầng giao thông của toàn bộ nông thôn, của vùng hay của làng, xã cần được hình thành và phát triển trước một bước và phù hợp với các hoạt động kinh tế, xã hội. Dựa trên các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để quyết định việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 xây dựng cơ sở hạ tầng GTNT. Đến lượt mình, sự phát triển cơ sở hạ tầng giao thông về quy mô, chất lượng lại thể hiện định hướng phát triển kinh tế, xã hội và tạo tiền đề vật chất cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện tốt chiến lược ưu tiên trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của toàn bộ nông thôn, toàn vùng, từng địa phương trong mỗi giai đoạn phát triển sẽ vừa quán triệt tốt đặc điểm về tính tiên phong định hướng, vừa giảm nhẹ nhu cầu huy động vốn đầu tư do chỉ tập trung vào những công trình ưu tiên. Tính địa phương, tính vùng và khu vực: Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: địa lý, địa hình, trình độ phát triển… Do địa bàn nông thôn rộng, dân cư phân bố không đều và điều kiện sản xuất nông nghiệp vừa đa dạng, phức tạp lại vừa khác biệt lớn giữa các địa phương, các vùng sinh thái. Vì thế, hệ thống cơ sở hạ tầng GTNT mang tính vùng và địa phương rõ nét. Điều này thể hiện cả trong quá trình tạo lập, xây dựng cũng như trong tổ chức quản lý, sử dụng chúng.
Yêu cầu này đặt ra trong việc xác định phân bố hệ thống GTNT, thiết kế, đầu tư và sử dụng nguyên vật liệu, vừa đặt trong hệ thống chung của quốc gia, vừa phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng địa phương, từng vùng lãnh thổ. Tính xã hội và tính công cộng cao: Tính xã hội và công cộng cao của các công trình giao thông ở nông thôn thể hiện trong xây dựng và trong sử dụng. Trong sử dụng, hầu hết các công trình đều được sử dụng nhằm phục vụ việc đi lại, buôn bán giao lưu của tất cả người dân, tất cả các cơ sở kinh tế, dịch vụ. Trong xây dựng, mỗi loại công trình khác nhau có những nguồn vốn khác nhau từ tất cả các thành phần, các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân.
Để việc xây dựng, quản lý, sử dụng các hệ thống hạ tầng GTNT có kết quả cần: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Đảm bảo hài hòa giữa nghĩa vụ trong xây dựng và quyền lợi trong sử dụng đối với các tuyến đường cụ thể. Nguyên tắc cơ bản là gắn quyền lợi và nghĩa vụ với nhau.