ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, môi trƣờng sinh thái đang bị ô nhiễm nặng nề do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con ngƣời gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp đến phát triển bền vững kinh tế - xã hội của các thế hệ hiện tại và tƣơng lai. Nhìn chung, hầu hết các khu công nghiệp, nhà máy sản xuất… trên cả nƣớc chƣa đáp ứng đƣợc những tiêu chuẩn về môi trƣờng theo quy định. Thực trạng đó làm cho môi trƣờng sinh thái ở một số địa phƣơng bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Cộng đồng dân cƣ, nhất là các cộng đồng dân cƣ lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với các vấn đề về môi trƣờng. Họ phải sống chung với không khí, nguồn nƣớc bị ô nhiễm chất thải công nghiệp. Mặc dù nhiều nhà máy đã có hệ thống xử lý song qua thời gian việc mở rộng sản xuất ở các khu, cụm công nghiệp nhƣng hệ thống xử lý chất thải không đƣợc nâng cấp, mở rộng khiến xử lý chất thải bị hạn chế. Đó là một trong những nguyên nhân làm môi trƣờng trở nên ô nhiễm hơn.
Đặc biệt là các nhà máy sản xuất vốn tƣ nhân gặp khó khăn trong việc nâng cấp, mở rộng hệ thống xử lý chất thải của nhà máy bởi vấn đề kinh phí xây dựng quá lớn, duy trì hệ thống hoạt động, …. Nhà máy sản xuất đũa gỗ tách xuất khẩu Phúc Lâm – xã Phúc Thịnh – Chiêm hóa – Tuyên Quang đã đƣợc xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 2007 cho đến nay. Vào ngày đầu hoạt động, hệ thống xử lý môi trƣờng của nhà máy vẫn đảm bảo tốt chất lƣợng nƣớc thải đầu ra đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên sau nhiều năm hoạt động, hệ thống xử lý này không còn đáp ứng đƣợc nhu cầu của nhà máy, nƣớc thải đầu ra gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng xung quanh.
Với mục tiêu giải quyết vấn đề ô nhiễm góp phần nâng cao chất lƣợng môi trƣờng, nhà máy hiện nay đã có những kế hoạch xây dựng, nâng cấp hệ 1 thống xử lý nƣớc thải để giải quyết các vấn đề nói trên nhƣng lại gặp khó khăn trong kinh phí thực hiện, thiếu nhân viên có chuyên môn để vận hành,… nên nhà máy đang cần một hệ thống xử lý đơn giản, hiệu quả, kinh phí thấp, vận hành dễ dàng… Nhận thấy mức độ cần thiết và tầm quan trọng của vấn đề, tôi quyết định thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy sản xuất đũa gỗ tách xuất khẩu Phúc Lâm – xã Phúc Thịnh – Chiêm Hóa – Tuyên Quang ”. Với mục tiêu thiết kệ hệ thống xử lý phù hợp với nhà máy. Tôi hi vọng kết quả của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho việc lựa chọn xây dựng hệ thống xử lý tại nhà máy. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ 1.
Tổng quan ngành chế biến gỗ Khác với nhiều ngành kinh tế, ngành chế biến gỗ có phạm vi tƣơng đối đặc biệt. Cụ thể, theo chiều ngang, ngành này thƣờng đƣợc xem xét ở góc độ rộng hơn, bao gồm không chỉ các hoạt động sản xuất chế biến gỗ mà còn có sản xuất chế biến lâm sản ngoài gỗ (mây, tre, nứa, vầu…). Tuy vậy, ngành này lại không bao gồm hoạt động sản xuất chế biến giấy từ nguyên liệu gỗ. Theo chiều dọc, ngành này gắn bó chặt chẽ với hoạt động trồng rừng (tạo nguyên liệu) cũng nhƣ hoạt động khai thác rừng trồng lấy gỗ làm nguyên liệu phục vụ hoạt động chế biến và vì vậy thƣờng đƣợc xem xét chung trong hầu hết các nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực này.
Trong khuôn khổ của đề tài này, ngành chế biến gỗ đƣợc hiểu là ngành sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ trừ hoạt động chế biến giấy. Các hoạt động sản xuất này bao gồm tất cả các cấp độ (dăm gỗ, xẻ, sấy khô, chế biến bán thành phẩm, chế biến các sản phẩm hoàn thiện). Hoạt động lâm nghiệp (trồng rừng, khai thác gỗ từ rừng) sẽ không đƣợc nói đến nhƣ một phần của ngành chế biến gỗ mà đƣợc xem xét từ góc độ nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành, một yếu tố không thể tách rời trong chiến lƣợc chung đối với ngành chế biến gỗ. Số lượng doanh nghiệp, cơ sở chế biến gỗ Về tổng thể, các chủ thể sản xuất và chế biến đồ gỗ có thể đƣợc chia thành 03 nhóm chủ yếu, bao gồm: - Nhóm các doanh nghiệp chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ: Đây là nhóm chủ thể kinh doanh chính thống, có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (hoặc Giấy phép đầu tƣ) và hoạt động theo pháp luật doanh nghiệp và pháp luật liên quan; 3 - Nhóm các cơ sở chế biến gỗ nằm trong làng nghề gỗ: Các cơ sở này có thể hoạt động dƣới hình thức doanh nghiệp, tuy nhiên phần nhiều hoạt động dƣới hình thức hộ kinh doanh cá thể, nằm trong khu vực làng nghề.
Nhóm này tuân thủ pháp luật liên quan tới hình thức của mình (pháp luật về doanh nghiệp, về hợp tác xã hoặc về hộ kinh doanh) đồng thời đƣợc áp dụng các quy định, chính sách liên quan tới làng nghề. - Nhóm các hộ gia đình sản xuất kinh doanh đồ gỗ: Nhóm này phần lớn là sản xuất nhỏ lẻ, vừa sản xuất vừa bán lẻ sản phẩm, không nằm trong các làng nghề tập trung. Theo số liệu tại nghiên cứu “Lập bản đồ các bên liên quan cho FLEGT/VPA tại Việt Nam” (Forest Trend, 11/2011) thì trong giai đoạn 2000 – 2009, số lƣợng doanh nghiệp chế biến gỗ đã tăng từ 741 doanh nghiệp trong năm 2000 lên 1.098 doanh nghiệp vào năm 2009 (tốc độ tăng trƣởng trung bình là 18%). Quy mô doanh nghiệp ngành chế biến gỗ Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Quy hoạch ngành chế biến gỗ, 6/2013) thì các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ có quy mô đa phần là nhỏ.
Theo số liệu lao động thì 46% số doanh nghiệp ngành chế biến gỗ có quy mô siêu nhỏ, 49% quy mô nhỏ, 1,7% quy mô vừa và 2,5% quy mô lớn. Theo vốn đầu tƣ, các tỷ lệ này lần lƣợt là 93% quy mô nhỏ và siêu nhỏ, 5,5% quy mô vừa và chỉ có 1,2% số doanh nghiệp có quy mô lớn. Theo nguồn gốc vốn thì 5% số doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nƣớc, 95% còn lại thuộc khu vực tƣ nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (FDI) chiếm 16%. Lao động và công nghệ chế biến gỗ * Về lực lượng lao động: 4 Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì ngành công nghiệp chế biến gỗ hiện đang thu hút khoảng 250.000 lao động trực tiếp và gián tiếp, trong đó lao động có trình độ từ đại học chiếm chƣa đầy 10%, số lao động trực tiếp đƣợc đào tạo chiếm 45-50%, còn lại lao động giản đơn theo mùa vụ chiếm khoảng 35-40%.
Tuy nhiên, một số liệu khác năm 2010 lại cho rằng ngành này đang có số lao động khoảng 300. Sự chênh lệch về số liệu này có thể đƣợc giải thích bởi một thực tế là với đặc điểm là ngành sản xuất có hàng ngàn các cơ sở hoạt động dƣới dạng hộ gia đình, làng nghề với lực lƣợng lao động tham gia sản xuất biến động khá lớn theo mùa vụ và hầu nhƣ không thể thống kê đầy đủ. * Liên quan tới công nghệ sản xuất: Theo VIFORES, các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang phân nhóm theo 04 cấp độ: - Nhóm các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp lớn và vừa sản xuất sản phẩm xuất khẩu: sử dụng công nghệ hiện đại với thiết bị nhập khẩu chủ yếu từ EU, Đài Loan - Nhóm các doanh nghiệp sản xuất ván nhân tạo(MDF, ván thanh, ván dán.): sử dụng công nghệ chế biến của châu Âu với quy mô công suất từ 60.000 m3 sản phẩm/năm - Nhóm các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ tiêu thụ nội địa: sử dụng chủ yếu công nghệ của Đài Loan và Trung Quốc với quy mô công suất nhỏ từ 1000 - 10.000 m3 sản phẩm/năm - Nhóm các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ mỹ nghệ: chủ yếu sản xuất theo công nghệ thủ công với công cụ truyền thống nhƣ xẻ tay, đục, chạm khắc bằng tay. Nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ *Về nhu cầu đối với gỗ nguyên liệu 5 Theo VIFORES thì nhu cầu đối với gỗ nguyên liệu đƣợc phân nhóm theo sản phẩm đầu ra nhƣ sau: - Gỗ rừng trồng trong nƣớc: để sản xuất dăm mảnh xuất khẩu, sản xuất bột giấy, sản xuất ván nhân tạo các loại và sản xuất đồ mộc; - Gỗ nhập khẩu: để sản xuất các sản phẩm gỗ xuất khẩu và sản phẩm gỗ xây dựng tiêu thụ nội địa; - Các loại gỗ vƣờn nhà (xoài, mít, nhãn, điều,…) các loại gỗ trồng phân tán (xoan, xà cừ, muồng và gỗ cao su…) đƣợc sử dụng để sản xuất ván ghép thanh, đồ gỗ ngoài trời để xuất khẩu; - Các loại ván nhân tạo: hiện nay Việt Nam đã sản xuất nhƣng vẫn phải nhập khẩu.
Dự kiến đến năm 2020 sẽ không nhập khẩu và sẽ xuất khẩu. * Về nguồn cung gỗ nguyên liệu Về tổng thể, nguyên liệu phục vụ cho ngành chế biến gỗ Việt Nam chủ yếu từ hai nguồn cơ bản: nguồn nguyên liệu gỗ trong nƣớc (gỗ tự nhiên và gỗ rừng trồng) và nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu. * Về nguồn gỗ trong nước Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì năm 2012, tổng diện tích rừng là 13,52 triệu ha, gồm 10,29 triệu ha rừng tự nhiên và 3,23 triệu ha rừng trồng. Tổng diện tích rừng tự nhiên là rừng sản xuất (cho phép khai thác) khoảng 4 triệu ha, với tổng sản lƣợng khai thác tối đa hàng năm khoảng 400.000 m3 gỗ, chủ yếu sử dụng ở trong nƣớc.
Tuy nhiên, theo quyết định của Chính phủ thì từ năm 2008, sản lƣợng khai thác từ rừng tự nhiên tối đa không quá 150.000 m3/năm và kể từ năm 2014 đóng cửa rừng tự nhiên. Do đó, hiện trữ lƣợng gỗ nguyên liệu từ rừng tự nhiên coi nhƣ không đƣợc tính đến, và nguồn nguyên liệu gỗ nội địa hiện chỉ còn trông chờ vào gỗ rừng trồng. Các chất thải phát sinh trong quá trình chế biến gỗ Ngành chế biến gỗ bao gồm rất nhiều hoạt động sản xuất khác nhau vì vậy chất thải đƣợc tạo ra trong mỗi hoạt động sản xuất là khác nhau. Dƣới đây chỉ kể ra một số chất thải điển hình đƣợc tạo ra trong quá trình chế biến gỗ.