phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương: Chƣơng 1 Một số vấn đề lí luận chung Chƣơng 2: Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nội dung ca dao người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam Chƣơng 3: Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nghệ thuật phản ánh của ca dao người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1. GIỚI THUYẾT CÁC KHÁI NIỆM 1. Ca dao và dân ca Đã có nhiều quan niệm về ca dao, dân ca (Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Thuần Phong, Hoàng Tiến Tựu, Vũ Ngọc Khánh,…).
Ở đây, chúng tôi xin được sử dụng cách hiểu của tác giả Nguyễn Xuân Kính. Cách hiểu này thể hiện trong sách Thi pháp ca dao [73] và bộ Kho tàng ca dao ngƣời Việt [74]. Sinh hoạt ca hát của người Việt có từ rất sớm. Người dân xưa chưa có những tên gọi có tính khái quát cao, mà thường dùng những từ chỉ các hiện tượng ca hát cụ thể: ví, hò, hát, hát trống quân, hát xoan, hát ghẹo, hát dậm (Hà Nam), hát giặm (Nghệ Tĩnh), hát phƣờng vải, hát ru, hò giã gạo, hò mái đẩy, hò đƣa linh, lí tƣơng tƣ, lí chim quyên, lí ngựa ô, lí cây chanh.
Các từ phong dao, ca dao có mặt trong các sách Hán Nôm từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trong các sách chữ quốc ngữ xuất bản ở đầu thế kỷ XX. “Phạm vi phản ánh của hai từ ca dao và phong dao có chỗ giống nhau. Người xưa gọi “Ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại”. Vì vậy dần dần tên gọi phong dao ít được sử dụng, nhường chỗ cho một từ ca dao.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, bên cạnh khuynh hướng thưởng thức ca dao trong mối quan hệ mật thiết với làn điệu, lề lối diễn xướng, khung cảnh ca hát, trong những khoảng thời gian ít nhất đã gần hai thế kỉ (từ cuối thế kỉ XVIII đến 1945) tồn tại một khuynh hướng khác: thưởng thức ca dao cổ truyền giống như văn học viết (đọc, ngâm, xem bằng mắt). Đóng vai trò quan 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng trong việc tạo ra khuynh hướng này là các nho sĩ. Từ thế kỉ XV trở đi, số nho sĩ ngày càng nhiều, trong các kỳ thi hương có hàng vạn người đi thi. Như vậy số nho sĩ không hiển đạt ngày càng nhiều.
Cũng có một số nhà nho cáo quan về ở ẩn. Chính tầng lớp nhà nho không đỗ đạt và ở ẩn này đã sưu tầm thơ ca dân gian và thưởng thức ca dao như thưởng thức thơ ca bác học [73, tr. Đến đầu thế kỉ XX, khi chữ quốc ngữ sử dụng ngày càng rộng rãi, chữ Hán càng ngày càng ít được phổ biến, khá nhiều sách báo sưu tập, nghiên cứu ca dao được xuất bản. Với những cuốn sách sưu tầm, biên soạn ca dao của Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Can Mộng.
khuynh hƣớng thƣởng thức ca dao nhƣ thƣởng thức văn học viết đƣợc củng cố thêm và tồn tại cho đến ngày nay. Cho đến những năm 50 của thế kỉ XX từ phong dao hầu như không còn được sử dụng, chỉ còn từ ca dao được dùng để chỉ một thứ thơ dân gian. Ở Việt Nam, so với từ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn. Phải đến năm 1956, với cuốn sách Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, từ dân ca mới trở nên quen thuộc.
Các nhà nghiên cứu văn học dân gian hiện nay cho rằng dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài) phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát. Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất định. Như vậy không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó (hát quan họ, hát ví, hát xoan.) cứ tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì đều là ca dao. Ca dao được hình thành từ dân ca.
Khi nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến lời ca. Giữa ca dao và dân ca có mối quan hệ gắn bó. Thuật ngữ kép ca dao - 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân ca đã được sử dụng để phản ánh mối quan hệ đặc biệt có những điểm tương đồng trong diễn xướng (có thể hát, ngâm theo các làn điệu). Khi được ghi chép, dân ca và ca dao đều được ngắt ra thành câu (hai dòng thơ) thành bài ca dao - dân ca (với nhiều dòng).
Hiện tượng từng được gọi là câu, là bài, là đơn vị, là tác phẩm ấy là những lời dân ca, ca dao. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính, thuật ngữ lời ca dao được hiểu theo nghĩa là một cơ cấu nghệ thuật hoàn chỉnh có mặt nội dung và mặt hình thức văn học. Nội dung của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình thức của lời ca dao gồm ngôn ngữ, nhịp điệu, thể thơ.
Theo các soạn giả bộ sách Kho tàng ca dao ngƣời Việt, thuật ngữ ca dao được hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp khác nhau: 1. Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca. Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi). Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, đưa hơi.
thì sẽ đều là ca dao. Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian [74, tập I, tr. Trong luận án này, chúng tôi nghiên cứu ca dao theo cách hiểu thứ hai và thứ ba. Chúng tôi cũng đồng ý với quan niệm cho rằng ca dao cổ truyền là những lời ca dao được lưu hành từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; ca (1) Bản in năm 2001.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dao hiện đại là những sáng tác thơ ca dân gian được lưu hành từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Trong luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm ca dao truyền thống. Nói đến ca dao truyền thống là nói đến những sáng tác ca dao ra đời sớm đã trở thành những khuôn mẫu ổn định, điêu luyện về nghệ thuật. Chậm nhất thì đến khoảng thế kỷ XVI - XVII, vốn ca dao truyền thống đã được hình thành ở Bắc Bộ.
Trên cơ sở vốn ca dao này, người Việt ở miền Bắc lại tiếp tục sáng tác và lưu truyền những tác phẩm thơ ca dân gian mới. Như vậy, cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong kho tàng ca dao của người Việt Bắc Bộ có một bộ phận là ca dao truyền thống và một bộ phận chưa ổn định thành những khuôn mẫu, những truyền thống sáng tác. Khi những lưu dân Việt đi vào miền Trung trong thời gian còn chân ướt chân ráo nơi đất khách quê người, những lưu dân đầu tiên ở xứ Quảng “vẫn cứ hát bằng chất giọng Đàng Ngoài quen thuộc - chứ chưa phải chất giọng đặc sệt Quảng Nam sau này, và có lẽ câu hát đầu tiên của người xa xứ vẫn là câu hát ngày xưa bên dòng sông Mã, sông Hồng: “Đêm qua ra đứng bờ ao - Trông cá cá lặn trông sao sao mờ - Buồn trông con nhện giăng tơ - Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai…”, “Trên trời có đám mây xanh - Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng - Ƣớc gì anh lấy đƣợc nàng - Để anh mua gạch Bát Tràng về xây - Xây dọc rồi lại xây ngang - Xây hồ bán nguyệt cho nàng chao chân”, “Núi cao chi lắm núi ơi - Che bóng mặt trời khuất mặt ngƣời thƣơng”, (…). Cho nên không có gì lạ khi bắt gặp trong ca dao Quảng Nam - Đà Nẵng nhiều câu hát thuần tuý Đàng Ngoài, còn nguyên gốc chính bản và thường rất hay.
Cũng dễ hiểu thôi, đường xa vạn dặm đâu có điều kiện mang nhiều, bởi vậy mỗi lưu dân phải chọn mang theo những gì là tinh hoa nhất; vả lại cái gì hay mới dễ khắc sâu vào ký ức con người. Dần dà để phù hợp hơn với cảnh ngộ mới, họ có nhu cầu thay lời đổi chữ, thêm mắm dặm muối vào 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com câu hát hôm qua, và đến một ngày kia, cuộc sống vừa bám - trụ - giữ - đất vừa quảng - nam - mở - cõi có quá nhiều điều khiến họ phải suy ngẫm sâu xa, phải tìm cảnh bộc lộ, giãi bày, đòi hỏi họ phải tự mình sáng tác những câu hát của chính hôm nay” [131, tr. Trong luận án, các từ: tác phẩm, bài, lời, đơn vị (ca dao) là những từ được dùng với ý nghĩa tương đương. Với cách hiểu này, các lời ca dao cổ truyền là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi.
Các khái niệm Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, miền Bắc, miền Trung, miền Nam Dưới thời Minh Mệnh, nước ta được phân chia thành các tỉnh. Từ tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), trên toàn quốc, trừ Thừa Thiên phủ ra, có 30 tỉnh dưới đây: A. Từ Thừa Thiên ra Bắc có 18 tỉnh là: (1) Chúng tôi trích và giữ đúng cách trình bày của tác giả Bùi Văn Tiếng. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Từ Thừa Thiên vào Nam có 12 tỉnh là: 1. Khánh Hoà 11. Hà Tiên Tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), nhà vua lại ra chỉ dụ phân bố toàn quốc thành bảng khu vực địa lý lớn hơn tỉnh: 1. Tả trực (các trực tỉnh phía tả Kinh sư): Quảng Nam, Quảng Ngãi 3.
Hữu trực (các tỉnh phía hữu Kinh sư): Quảng Trị, Quảng Bình 4. Tả Kỳ (các tỉnh phía Tả Kỳ): Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận 5. Hữu Kỳ (các tỉnh thuộc Hữu Kỳ): Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá 6. Nam Kỳ: Gia Định, Định Tường, Biên Hoà, An Giang, Vĩnh Long, 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hà Tiên 7.
Bắc Kỳ: Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định, Quảng Yên, Thái Nguyên, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng.