Luận án tiến sĩ tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người việt ở ba miền bắc trung nam luận án ts văn học 5 04 07

Luận án tiến sĩ văn học nghiên cứu tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người việt ở ba miền bắc trung nam luận án ts văn, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2005

216
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề

3. Phương pháp nghiên cứu

5. Đóng góp của luận án

6. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1. Giới thuyết các khái niệm

1.1.1. Ca dao và dân ca

1.1.2. Các khái niệm Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, miền Bắc, miền Trung, miền Nam

1.1.3. Phân vùng văn học dân gian và phân vùng ca dao

1.1.4. Môi trường tự nhiên, xã hội và lịch sử của chủ nhân ca dao Bắc Bộ (ca dao miền Bắc)

1.1.5. Môi trường tự nhiên, xã hội và lịch sử của chủ nhân ca dao Trung Bộ (ca dao miền Trung)

1.1.6. Môi trường tự nhiên, xã hội và lịch sử của chủ nhân ca dao Nam Bộ (ca dao miền Nam)

1.1.7. Về mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam

1.1.8. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: TÍNH THỐNG NHẤT VÀ SẮC THÁI RIÊNG TRONG NỘI DUNG CA DAO NGƯỜI VIỆT Ở BA MIỀN BẮC, TRUNG, NAM

2.1. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nội dung mảng ca dao phản ánh tình cảm yêu nước

2.1.1. Yêu quê hương làng xóm

2.1.2. Tự hào về truyền thống văn hoá tốt đẹp

2.1.3. Ca ngợi truyền thống kiên cường giữ nước

2.1.4. Tố cáo tội ác quân giặc

2.2. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nội dung mảng ca dao về quan hệ gia đình, họ hàng

2.2.1. Tình cảm của con cháu với ông bà, cha mẹ

2.2.2. Tình cảm vợ chồng

2.2.3. Tình cảm anh chị em

2.2.4. Quan hệ dòng họ

2.3. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong mảng ca dao tình yêu

2.3.1. Những biểu hiện phong phú của tình yêu lứa đôi

2.3.2. Tiêu chí chọn bạn tình và quan niệm về tình yêu

2.3.3. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: TÍNH THỐNG NHẤT VÀ SẮC THÁI RIÊNG TRONG NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO NGƯỜI VIỆT Ở BA MIỀN BẮC, TRUNG, NAM

3.1. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong việc sử dụng thể thơ lục bát

3.1.1. Thể thơ lục bát trong ca dao

3.1.2. Ca dao ba miền đều sử dụng hình thức lục bát biến thể

3.2. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong việc sử dụng hai dạng văn bản tạo hình và biểu hiện

3.3. Tính thống nhất và sắc thái riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ

3.3.1. Sử dụng phương ngữ

3.3.2. Sử dụng từ gốc Hán và điển tích

3.3.3. Sử dụng các biện pháp tu từ và biểu tượng

3.4. Tiểu kết

KẾT LUẬN

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách nhận diện tính thống nhất trong ca dao người Việt ba miền

Ca dao Việt Nam là kho tàng văn hóa dân gian phong phú, thể hiện sự thống nhất sâu sắc trong nội dung và nghệ thuật qua ba miền Bắc, Trung, Nam. Tính thống nhất trong ca dao không chỉ là sự đồng nhất về chủ đề, hình thức mà còn là sự kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc. Ca dao ba miền đều phản ánh các giá trị truyền thống như tình yêu quê hương, gia đình, tình yêu đôi lứa, và các mảng đề tài xã hội khác. Sự thống nhất này được thể hiện qua việc sử dụng thể thơ lục bát truyền thống, ngôn ngữ ca dao mang đậm dấu ấn dân gian Việt Nam, và các biện pháp tu từ đặc trưng. Đồng thời, tính thống nhất còn là nền tảng để ca dao phát triển, lưu truyền qua nhiều thế hệ, góp phần giữ gìn giá trị văn hóa dân gian Việt Nam. Việc nhận diện tính thống nhất giúp hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa chung của dân tộc, đồng thời làm rõ vai trò của ca dao trong văn hóa dân gian Việt Nam.

1.1. Phân tích đặc điểm chung của ca dao Việt Nam ba miền

Ca dao ba miền Bắc, Trung, Nam đều có những đặc điểm chung về nội dung và hình thức nghệ thuật. Nội dung ca dao phản ánh sâu sắc các mảng đề tài như tình yêu quê hương, gia đình, tình yêu đôi lứa, lao động và các vấn đề xã hội. Hình thức nghệ thuật chủ yếu là thể thơ lục bát, sử dụng ngôn ngữ dân gian giản dị, giàu hình ảnh biểu cảm. Các biện pháp tu từ như điệp ngữ, ẩn dụ, so sánh được sử dụng phổ biến tạo nên sức hấp dẫn và tính truyền cảm cao. Sự thống nhất này thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa ca dao với văn hóa dân gian Việt Nam, góp phần làm nên giá trị truyền thống bền vững của ca dao.

1.2. Vai trò của tính thống nhất trong bảo tồn văn hóa dân gian Việt Nam

Tính thống nhất trong ca dao là yếu tố then chốt giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian Việt Nam. Nó tạo nên sự liên kết giữa các vùng miền, giúp ca dao trở thành tài sản chung của dân tộc. Qua đó, ca dao không chỉ là phương tiện biểu đạt cảm xúc, tư tưởng mà còn là cầu nối văn hóa giữa các thế hệ và các vùng miền. Việc duy trì tính thống nhất góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, chống lại sự mai một do ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai và hiện đại hóa.

II. Hướng dẫn phân tích sắc thái riêng trong ca dao người Việt ba miền

Mỗi miền Bắc, Trung, Nam có những sắc thái riêng biệt trong ca dao, phản ánh đặc điểm văn hóa, lịch sử và môi trường sống đặc thù. Ca dao miền Bắc mang đậm nét trau chuốt, cổ điển, thể hiện sự sâu sắc và tinh tế trong biểu đạt cảm xúc. Ca dao miền Trung có phong cách dịu dàng, mềm mại, pha trộn ảnh hưởng văn hóa Chăm Pa và truyền thống địa phương. Ca dao miền Nam thể hiện sự phóng khoáng, năng động, chịu ảnh hưởng của môi trường sông nước và sự giao thoa văn hóa đa dạng. Những sắc thái riêng này không làm mất đi tính thống nhất mà còn làm phong phú thêm kho tàng ca dao Việt Nam, tạo nên sự đa dạng trong văn hóa dân gian.

2.1. Đặc trưng sắc thái riêng trong ca dao miền Bắc

Ca dao miền Bắc nổi bật với phong cách trau chuốt, ngôn ngữ mượt mà, giàu hình ảnh và điển tích. Các bài ca thường mang hơi thở cổ điển, thể hiện sự tinh tế trong cảm xúc và tư tưởng. Ca dao miền Bắc phản ánh sâu sắc các mảng đề tài về tình yêu, gia đình, quê hương với sự biểu đạt cảm xúc sắc sảo, điển hình. Đây là vùng đất cội nguồn của ca dao truyền thống, nơi hình thành nhiều khuôn mẫu nghệ thuật bền vững.

2.2. Sắc thái riêng trong ca dao miền Trung và ảnh hưởng văn hóa Chăm

Ca dao miền Trung có sắc thái dịu dàng, mềm mại, mang đậm ảnh hưởng của văn hóa Chăm Pa và các yếu tố địa phương. Ngôn ngữ ca dao miền Trung thường sử dụng các biến thể thể thơ lục bát, kết hợp với các hình tượng nghệ thuật đặc trưng như núi non, biển cả, gió Lào. Sắc thái này phản ánh sự hòa quyện giữa truyền thống Việt và văn hóa bản địa, tạo nên nét độc đáo riêng biệt trong ca dao miền Trung.

2.3. Phong cách ca dao miền Nam với sự giao thoa văn hóa đa dạng

Ca dao miền Nam thể hiện sự phóng khoáng, năng động, phản ánh môi trường sông nước và sự đa dạng văn hóa của vùng đất mới. Ngôn ngữ ca dao miền Nam có nhiều từ ngữ địa phương, phương ngữ, và các biến thể thể thơ lục bát phong phú. Sự giao thoa với văn hóa Khơ Me, Hoa và các tộc người thiểu số tạo nên sắc thái riêng biệt, làm phong phú thêm kho tàng ca dao Việt Nam.

III. Phương pháp nghiên cứu tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao Việt Nam

Nghiên cứu tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao người Việt sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh và thống kê. Phương pháp so sánh giúp nhận diện các điểm chung và khác biệt giữa ca dao ba miền, từ đó làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tính thống nhất và sắc thái riêng. Phương pháp thống kê được áp dụng để phân loại và đánh giá tỉ lệ các chủ đề, thể loại, và hình thức nghệ thuật trong ca dao. Ngoài ra, nghiên cứu liên ngành kết hợp với khảo sát lịch sử, văn hóa và xã hội giúp hiểu sâu sắc hơn về bối cảnh hình thành và phát triển của ca dao từng vùng miền.

3.1. Phương pháp so sánh và thống kê trong nghiên cứu ca dao ba miền

Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của ca dao Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Qua đó, nhận diện tính thống nhất và sắc thái riêng của từng miền. Phương pháp thống kê giúp phân tích tỉ lệ các chủ đề ca dao, thể thơ, và các yếu tố nghệ thuật, từ đó đánh giá mức độ phổ biến và đặc trưng của từng yếu tố trong kho tàng ca dao.

3.2. Nghiên cứu liên ngành và khảo sát lịch sử văn hóa trong ca dao

Nghiên cứu ca dao không chỉ dừng lại ở phân tích văn học mà còn kết hợp với khảo sát lịch sử, địa lý, xã hội và văn hóa dân gian. Việc này giúp làm rõ bối cảnh hình thành, phát triển và biến đổi của ca dao từng vùng miền. Qua đó, hiểu được nguyên nhân hình thành sắc thái riêng và sự thống nhất trong ca dao người Việt.

IV. Bí quyết ứng dụng tính thống nhất và sắc thái riêng trong nghiên cứu ca dao Việt Nam

Việc ứng dụng tính thống nhất và sắc thái riêng trong nghiên cứu ca dao giúp làm sáng tỏ bản sắc văn hóa dân gian Việt Nam. Bí quyết nằm ở việc kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật, đồng thời đặt ca dao trong bối cảnh lịch sử, xã hội cụ thể của từng miền. Nghiên cứu cần chú trọng đến các yếu tố ngôn ngữ, thể thơ, phong cách biểu đạt và các biểu tượng văn hóa đặc trưng. Qua đó, không chỉ bảo tồn giá trị truyền thống mà còn phát hiện những nét mới, góp phần làm phong phú kho tàng ca dao Việt Nam.

4.1. Kỹ thuật phân tích nội dung và hình thức nghệ thuật ca dao

Phân tích nội dung ca dao tập trung vào các chủ đề lớn như tình yêu, gia đình, quê hương, lao động và xã hội. Hình thức nghệ thuật được nghiên cứu qua thể thơ lục bát, ngôn ngữ, biện pháp tu từ và phong cách biểu đạt. Việc kết hợp hai yếu tố này giúp nhận diện tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao ba miền.

4.2. Đặt ca dao trong bối cảnh lịch sử và văn hóa từng miền

Hiểu rõ bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa của từng miền giúp giải thích nguyên nhân hình thành sắc thái riêng trong ca dao. Ví dụ, ca dao miền Trung chịu ảnh hưởng văn hóa Chăm, ca dao miền Nam phản ánh sự giao thoa văn hóa đa dạng. Việc đặt ca dao trong bối cảnh cụ thể giúp nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn.

V. Top kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn về ca dao ba miền Việt Nam

Nghiên cứu ca dao ba miền đã làm rõ tính thống nhất và sắc thái riêng trong nội dung và nghệ thuật, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa dân gian Việt Nam. Kết quả nghiên cứu giúp bảo tồn và phát huy giá trị ca dao trong giáo dục, văn hóa và nghệ thuật. Ứng dụng thực tiễn bao gồm việc biên soạn, sưu tầm ca dao, phát triển các chương trình giáo dục văn hóa dân gian, và tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật nhằm giới thiệu, quảng bá ca dao đến công chúng rộng rãi hơn.

5.1. Những đóng góp quan trọng của nghiên cứu ca dao ba miền

Nghiên cứu đã hệ thống hóa, phân tích sâu sắc các đặc điểm chung và riêng của ca dao ba miền, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tính thống nhất và sắc thái riêng. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa dân gian, bảo tồn các giá trị truyền thống và phát triển văn hóa dân tộc.

5.2. Ứng dụng trong giáo dục và phát huy giá trị ca dao truyền thống

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong biên soạn tài liệu giáo dục, tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng ca dao truyền thống. Đồng thời, góp phần phát triển các hình thức biểu diễn dân gian, bảo tồn ngôn ngữ và phong cách ca dao đặc trưng của từng miền.

VI. Phương hướng phát triển tương lai của nghiên cứu tính thống nhất và sắc thái riêng trong ca dao

Nghiên cứu ca dao cần tiếp tục mở rộng phạm vi, kết hợp công nghệ hiện đại để sưu tầm, phân tích và bảo tồn kho tàng ca dao phong phú. Phát triển các phương pháp nghiên cứu liên ngành, ứng dụng công nghệ số trong lưu trữ và phổ biến ca dao. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế để giới thiệu ca dao Việt Nam ra thế giới, góp phần quảng bá văn hóa dân gian Việt Nam toàn diện và sâu sắc hơn.

6.1. Ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn và nghiên cứu ca dao

Sử dụng công nghệ số để lưu trữ, phân tích và phổ biến ca dao giúp bảo tồn kho tàng văn hóa dân gian hiệu quả hơn. Các công cụ phân tích ngôn ngữ tự nhiên, cơ sở dữ liệu số và các nền tảng trực tuyến sẽ hỗ trợ nghiên cứu và truyền tải ca dao đến đông đảo công chúng.

6.2. Mở rộng nghiên cứu liên ngành và hợp tác quốc tế về ca dao Việt Nam

Kết hợp nghiên cứu văn học, lịch sử, xã hội học, nhân học và công nghệ thông tin để có cái nhìn toàn diện về ca dao. Hợp tác quốc tế giúp giới thiệu ca dao Việt Nam ra thế giới, đồng thời học hỏi kinh nghiệm bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian từ các quốc gia khác.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương: Chƣơng 1 Một số vấn đề lí luận chung Chƣơng 2: Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nội dung ca dao người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam Chƣơng 3: Tính thống nhất và sắc thái riêng trong nghệ thuật phản ánh của ca dao người Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG 1. GIỚI THUYẾT CÁC KHÁI NIỆM 1. Ca dao và dân ca Đã có nhiều quan niệm về ca dao, dân ca (Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Thuần Phong, Hoàng Tiến Tựu, Vũ Ngọc Khánh,…).

Ở đây, chúng tôi xin được sử dụng cách hiểu của tác giả Nguyễn Xuân Kính. Cách hiểu này thể hiện trong sách Thi pháp ca dao [73] và bộ Kho tàng ca dao ngƣời Việt [74]. Sinh hoạt ca hát của người Việt có từ rất sớm. Người dân xưa chưa có những tên gọi có tính khái quát cao, mà thường dùng những từ chỉ các hiện tượng ca hát cụ thể: ví, hò, hát, hát trống quân, hát xoan, hát ghẹo, hát dậm (Hà Nam), hát giặm (Nghệ Tĩnh), hát phƣờng vải, hát ru, hò giã gạo, hò mái đẩy, hò đƣa linh, lí tƣơng tƣ, lí chim quyên, lí ngựa ô, lí cây chanh.

Các từ phong dao, ca dao có mặt trong các sách Hán Nôm từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trong các sách chữ quốc ngữ xuất bản ở đầu thế kỷ XX. “Phạm vi phản ánh của hai từ ca dao và phong dao có chỗ giống nhau. Người xưa gọi “Ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại”. Vì vậy dần dần tên gọi phong dao ít được sử dụng, nhường chỗ cho một từ ca dao.

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, bên cạnh khuynh hướng thưởng thức ca dao trong mối quan hệ mật thiết với làn điệu, lề lối diễn xướng, khung cảnh ca hát, trong những khoảng thời gian ít nhất đã gần hai thế kỉ (từ cuối thế kỉ XVIII đến 1945) tồn tại một khuynh hướng khác: thưởng thức ca dao cổ truyền giống như văn học viết (đọc, ngâm, xem bằng mắt). Đóng vai trò quan 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng trong việc tạo ra khuynh hướng này là các nho sĩ. Từ thế kỉ XV trở đi, số nho sĩ ngày càng nhiều, trong các kỳ thi hương có hàng vạn người đi thi. Như vậy số nho sĩ không hiển đạt ngày càng nhiều.

Cũng có một số nhà nho cáo quan về ở ẩn. Chính tầng lớp nhà nho không đỗ đạt và ở ẩn này đã sưu tầm thơ ca dân gian và thưởng thức ca dao như thưởng thức thơ ca bác học [73, tr. Đến đầu thế kỉ XX, khi chữ quốc ngữ sử dụng ngày càng rộng rãi, chữ Hán càng ngày càng ít được phổ biến, khá nhiều sách báo sưu tập, nghiên cứu ca dao được xuất bản. Với những cuốn sách sưu tầm, biên soạn ca dao của Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Can Mộng.

khuynh hƣớng thƣởng thức ca dao nhƣ thƣởng thức văn học viết đƣợc củng cố thêm và tồn tại cho đến ngày nay. Cho đến những năm 50 của thế kỉ XX từ phong dao hầu như không còn được sử dụng, chỉ còn từ ca dao được dùng để chỉ một thứ thơ dân gian. Ở Việt Nam, so với từ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn. Phải đến năm 1956, với cuốn sách Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, từ dân ca mới trở nên quen thuộc.

Các nhà nghiên cứu văn học dân gian hiện nay cho rằng dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài) phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát. Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất định. Như vậy không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó (hát quan họ, hát ví, hát xoan.) cứ tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì đều là ca dao. Ca dao được hình thành từ dân ca.

Khi nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến lời ca. Giữa ca dao và dân ca có mối quan hệ gắn bó. Thuật ngữ kép ca dao - 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân ca đã được sử dụng để phản ánh mối quan hệ đặc biệt có những điểm tương đồng trong diễn xướng (có thể hát, ngâm theo các làn điệu). Khi được ghi chép, dân ca và ca dao đều được ngắt ra thành câu (hai dòng thơ) thành bài ca dao - dân ca (với nhiều dòng).

Hiện tượng từng được gọi là câu, là bài, là đơn vị, là tác phẩm ấy là những lời dân ca, ca dao. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính, thuật ngữ lời ca dao được hiểu theo nghĩa là một cơ cấu nghệ thuật hoàn chỉnh có mặt nội dung và mặt hình thức văn học. Nội dung của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể. Hình thức của lời ca dao gồm ngôn ngữ, nhịp điệu, thể thơ.

Theo các soạn giả bộ sách Kho tàng ca dao ngƣời Việt, thuật ngữ ca dao được hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp khác nhau: 1. Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca. Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi). Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, đưa hơi.

thì sẽ đều là ca dao. Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian [74, tập I, tr. Trong luận án này, chúng tôi nghiên cứu ca dao theo cách hiểu thứ hai và thứ ba. Chúng tôi cũng đồng ý với quan niệm cho rằng ca dao cổ truyền là những lời ca dao được lưu hành từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; ca (1) Bản in năm 2001.

16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dao hiện đại là những sáng tác thơ ca dân gian được lưu hành từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Trong luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm ca dao truyền thống. Nói đến ca dao truyền thống là nói đến những sáng tác ca dao ra đời sớm đã trở thành những khuôn mẫu ổn định, điêu luyện về nghệ thuật. Chậm nhất thì đến khoảng thế kỷ XVI - XVII, vốn ca dao truyền thống đã được hình thành ở Bắc Bộ.

Trên cơ sở vốn ca dao này, người Việt ở miền Bắc lại tiếp tục sáng tác và lưu truyền những tác phẩm thơ ca dân gian mới. Như vậy, cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong kho tàng ca dao của người Việt Bắc Bộ có một bộ phận là ca dao truyền thống và một bộ phận chưa ổn định thành những khuôn mẫu, những truyền thống sáng tác. Khi những lưu dân Việt đi vào miền Trung trong thời gian còn chân ướt chân ráo nơi đất khách quê người, những lưu dân đầu tiên ở xứ Quảng “vẫn cứ hát bằng chất giọng Đàng Ngoài quen thuộc - chứ chưa phải chất giọng đặc sệt Quảng Nam sau này, và có lẽ câu hát đầu tiên của người xa xứ vẫn là câu hát ngày xưa bên dòng sông Mã, sông Hồng: “Đêm qua ra đứng bờ ao - Trông cá cá lặn trông sao sao mờ - Buồn trông con nhện giăng tơ - Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai…”, “Trên trời có đám mây xanh - Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng - Ƣớc gì anh lấy đƣợc nàng - Để anh mua gạch Bát Tràng về xây - Xây dọc rồi lại xây ngang - Xây hồ bán nguyệt cho nàng chao chân”, “Núi cao chi lắm núi ơi - Che bóng mặt trời khuất mặt ngƣời thƣơng”, (…). Cho nên không có gì lạ khi bắt gặp trong ca dao Quảng Nam - Đà Nẵng nhiều câu hát thuần tuý Đàng Ngoài, còn nguyên gốc chính bản và thường rất hay.

Cũng dễ hiểu thôi, đường xa vạn dặm đâu có điều kiện mang nhiều, bởi vậy mỗi lưu dân phải chọn mang theo những gì là tinh hoa nhất; vả lại cái gì hay mới dễ khắc sâu vào ký ức con người. Dần dà để phù hợp hơn với cảnh ngộ mới, họ có nhu cầu thay lời đổi chữ, thêm mắm dặm muối vào 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com câu hát hôm qua, và đến một ngày kia, cuộc sống vừa bám - trụ - giữ - đất vừa quảng - nam - mở - cõi có quá nhiều điều khiến họ phải suy ngẫm sâu xa, phải tìm cảnh bộc lộ, giãi bày, đòi hỏi họ phải tự mình sáng tác những câu hát của chính hôm nay” [131, tr. Trong luận án, các từ: tác phẩm, bài, lời, đơn vị (ca dao) là những từ được dùng với ý nghĩa tương đương. Với cách hiểu này, các lời ca dao cổ truyền là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi.

Các khái niệm Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, miền Bắc, miền Trung, miền Nam Dưới thời Minh Mệnh, nước ta được phân chia thành các tỉnh. Từ tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), trên toàn quốc, trừ Thừa Thiên phủ ra, có 30 tỉnh dưới đây: A. Từ Thừa Thiên ra Bắc có 18 tỉnh là: (1) Chúng tôi trích và giữ đúng cách trình bày của tác giả Bùi Văn Tiếng. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Từ Thừa Thiên vào Nam có 12 tỉnh là: 1. Khánh Hoà 11. Hà Tiên Tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), nhà vua lại ra chỉ dụ phân bố toàn quốc thành bảng khu vực địa lý lớn hơn tỉnh: 1. Tả trực (các trực tỉnh phía tả Kinh sư): Quảng Nam, Quảng Ngãi 3.

Hữu trực (các tỉnh phía hữu Kinh sư): Quảng Trị, Quảng Bình 4. Tả Kỳ (các tỉnh phía Tả Kỳ): Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận 5. Hữu Kỳ (các tỉnh thuộc Hữu Kỳ): Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá 6. Nam Kỳ: Gia Định, Định Tường, Biên Hoà, An Giang, Vĩnh Long, 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hà Tiên 7.

Bắc Kỳ: Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định, Quảng Yên, Thái Nguyên, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ