Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Văn học Việt Nam của tác giả Chu Thị Lan Anh (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Khoa Ngữ văn, năm 2017) tập trung nghiên cứu tư tưởng và nghệ thuật thơ văn của nhà nho yêu nước Nguyễn Xuân Ôn qua tác phẩm Ngọc Đường thi văn tập.

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, đặt đất nước trước thử thách sống còn. Trong bối cảnh triều đình nhà Nguyễn bạc nhược, từng bước ký các hiệp ước đầu hàng (tiêu biểu là các hiệp ước năm 1883 và 1884), phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân và các sĩ phu yêu nước nổ ra mạnh mẽ trên khắp ba miền. Nếu Nam Kỳ có Nguyễn Hữu Huân, Bắc Kỳ có Nguyễn Quang Bích, thì ở Trung Kỳ, phong trào gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Xuân Ôn. Bên cạnh tư cách là một thủ lĩnh phong trào Cần Vương tại Nghệ - Tĩnh, Nguyễn Xuân Ôn còn là một tác gia tiêu biểu của dòng văn học yêu nước với di sản thơ văn ghi lại chân thực tinh thần bất khuất của dân tộc và tâm trạng của lớp trí thức Nho học đương thời.

Theo văn bản khóa luận, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Làm rõ tư tưởng yêu nước trong thơ văn Nguyễn Xuân Ôn nói riêng và xây dựng cái nhìn toàn diện về sự nghiệp sáng tác của ông qua Ngọc Đường thi văn tập.
  2. Góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về tầng lớp sĩ phu chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX cùng diện mạo văn học yêu nước của giai đoạn lịch sử này.
  3. Bổ sung nguồn tư liệu, làm phong phú vốn tri thức về văn học dân tộc giai đoạn chống ngoại xâm, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và giảng dạy môn Ngữ văn.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ tập Ngọc Đường thi văn tập của tác giả Nguyễn Xuân Ôn. Nguồn ngữ liệu chính được trích dẫn và khảo sát từ ấn bản Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn do Giáo sư Đinh Xuân Lâm giới thiệu (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1977). Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các biểu hiện nội dung của tinh thần yêu nước và các bút pháp nghệ thuật chủ đạo được sử dụng trong tập tác phẩm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa kết quả từ các công trình nghiên cứu lịch sử và lịch sử văn học tiêu biểu trước đó về tác giả Nguyễn Xuân Ôn:

  • Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (Nhiều tác giả, 1965): Nhấn mạnh khí phách kiên trung, bất khuất của Nguyễn Xuân Ôn qua phát ngôn và tác phẩm thơ ca.
  • Giáo trình văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX) của Nguyễn Lộc (1976): Khẳng định nét tư tưởng quán xuyến toàn bộ sáng tác của ông là tinh thần yêu nước thiết tha và ý chí kiên định từ thời trẻ.
  • Lời bạt Ngọc Đường thi văn tập của Trần Quang Diệm (1977): Phân tích văn phong cương trực, các bài tấu bàn thời sự mang phong cách Lục Tuyên Công thời xưa.
  • Lời giới thiệu trong tập Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn của Đinh Xuân Lâm (1977): Khái quát giá trị bài học lịch sử và tính thời sự của tác phẩm.
  • Nhận định của Hà Minh Đức trong Thơ ca hiện đại Việt Nam (1998) và các phân tích trong Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (2003).

Khóa luận sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu văn học mang tính đặc thù:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Tập hợp, phân chia hệ thống tác phẩm gồm thơ chữ Hán, văn xuôi chữ Hán, tấu sớ và thơ Nôm theo từng giai đoạn sáng tác và chủ đề nội dung.
  • Phương pháp phân tích, so sánh: Phân tích các văn bản thơ, bài tấu điều trần; so sánh tư tưởng và phong cách của Nguyễn Xuân Ôn với các tác giả cùng thời hoặc tiền bối như Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Quang Bích.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm, rút ra kết luận về quy mô tư tưởng yêu nước và giá trị nghệ thuật của Ngọc Đường thi văn tập.

Nguồn dữ liệu khảo sát gồm 311 bài thơ chữ Hán trong Ngọc Đường thi tập, 22 bài văn xuôi cùng một số câu đối trong Ngọc Đường văn tập, kết hợp các bài thơ Nôm lưu truyền trong dân gian.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương này tập trung trình bày bối cảnh thời đại, tiểu sử cuộc đời, sự nghiệp trước tác và vị trí lịch sử văn học của tác giả.

  • Bối cảnh lịch sử - xã hội và tư tưởng thời đại: Khái quát sự kiện thực dân Pháp nổ súng tại Đà Nẵng ngày 31/8/1858, sự suy vi và chia rẽ trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn dẫn đến việc ký kết các hiệp ước bất bình đẳng. Hệ tư tưởng Nho giáo độc tôn thời Nguyễn bị rạn nứt trước làn sóng xâm lăng phương Tây, phân hóa thành hai xu hướng rõ rệt: phe chủ hòa thỏa hiệp đầu hàng và phe chủ chiến đứng về phía nhân dân chống giặc. Phong trào Cần Vương bùng nổ mạnh mẽ khi vua Hàm Nghi xuất bôn xuống chiếu, quy tụ các văn thân, sĩ phu trên toàn quốc.
  • Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Xuân Ôn:
    • Cuộc đời: Nguyễn Xuân Ôn sinh ngày 23/3 năm Ất Dậu (10/5/1825) tại làng Quần Phương, xã Lương Điền, tổng Thái Xá, huyện Đông Thành (nay là xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Đỗ Tú tài năm 1844 (18 tuổi), Cử nhân năm 1867 (42 tuổi), đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi năm 1871 (48 tuổi) cùng khoa với Nguyễn Khuyến và Lê Doãn Nhã. Cuộc đời ông chia thành ba giai đoạn chính:
      1. Giai đoạn làm quan triều Nguyễn (1871 - 1883): Trải qua các chức vụ Tri phủ Quảng Ninh (Quảng Bình), Đốc học Bình Định, Ngự sử tại Huế, Án sát Bình Thuận, Án sát Quảng Bình. Ông liên tục dâng sớ can gián, vạch tội tham quan, chống chính sách ngoại giao cầu hòa và đề xuất kế sách phòng thủ; đến năm 1883 bị triều đình cách chức.
      2. Giai đoạn về quê khởi nghĩa chống Pháp (1885 - 1887): Tháng 7/1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, ông được phong làm An Tĩnh Hiệp thống quân vụ đại thần. Ông cùng các đồng chí lập chiến khu tại xã Đông Thành (huyện Yên Thành, Nghệ An), xây dựng căn cứ Đại đồn Đồng Thông (rộng khoảng 30 ha, quy tụ khoảng 2.000 nghĩa quân) kiên cường chiến đấu.
      3. Giai đoạn bị giam cầm và qua đời (1887 - 1889): Ngày 25/7/1887 (2/4 năm Đinh Hợi), ông bị địch bắt tại Đồng Nhân (thôn Đông Đức, xã Mã Thành, Yên Thành) khi đang dưỡng thương. Trải qua các nhà lao Diễn Châu, Vinh, Hải Dương, Huế, ông giữ vững khí tiết. Năm 1889, dưới thời vua Thành Thái, ông được ân xá nhưng bị quản thúc tại Huế và qua đời cùng năm, thọ 64 tuổi.
    • Sự nghiệp văn chương: Bao gồm Ngọc Đường thi tập (311 bài thơ chữ Hán), Ngọc Đường văn tập (22 bài văn xuôi, tấu sớ, câu đối) và một số bài thơ Nôm. Thơ văn phản ánh trọn vẹn tiến trình tư tưởng từ khi còn là thư sinh dùi mài kinh sử (Bột hứng, Trung dạ khởi tư) đến khi làm quan (Thuật hoài, Đắc chỉ bổ Quảng Ninh tri phủ...) và giai đoạn cầm vũ khí đánh giặc (Cảm thuật, Trường An hoài cổ).
  • Vị trí trong dòng văn học yêu nước: Nguyễn Xuân Ôn được định vị là lãnh tụ khởi nghĩa tiêu biểu kiêm ngòi bút tiên phong của phong trào văn thân Cần Vương miền Trung, giương cao ngọn cờ "xã tắc lâm nguy, thất phu hữu trách", dùng văn chương "chở đạo, tải đạo" để phục vụ sự nghiệp cứu quốc.

Chương 2: Ngọc Đường thi văn tập - khúc ca thấm đượm tinh thần yêu nước

Chương này đi sâu phân tích hai phương diện cốt lõi: nội dung biểu hiện của tinh thần yêu nước và các bút pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng yêu nước.

  • Biểu hiện của tinh thần yêu nước:
    • Ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước: Thể hiện qua hoài bão "chí nam nhi", nợ công danh gắn liền với vận mệnh quốc gia dân tộc. Khác với quan niệm lập thân vị kỷ để vinh thân phì gia, Nguyễn Xuân Ôn thể hiện niềm tin son sắt vào bổn phận cứu đời trong các tác phẩm Bột hứng, Trung dạ khởi tư, Tửu hứng, Tiễu hữu nhân, Đông nhật cảm hoài.
    • Nỗi căm giận đối với kẻ thù và bè lũ đầu hàng:
      • Vạch trần bản chất hung bạo, xảo quyệt của thực dân Pháp, gọi chúng là "quỷ ma", "muông sói", "mấy thằng Tây" trong Mạnh đông du Thập tháp ngẫu thuật, Cảm tác, Trường An hoài cổ.
      • Lên án gay gắt đường lối hòa nghị nhu nhược, chính sách "biếu ngọc, dâng lụa" của triều đình Huế trong các bản tấu năm 1879, 1882, 1883 (Bài tâu điều trần các việc nên làm, Tâu xin kinh lý miền thượng du, Tâu xin về quê nhà để tập hợp và vỗ về nhân dân).
      • Phê phán thói xu nịnh ngoại bang, bắt chước lối sống Tây hóa kệch cỡm của tầng lớp quan lại biến chất qua các bài thơ Nghe bốn trấn thất thủ cảm tác, Lễ sóc vọng bái, Thu nhật cảm tác, Mậu Tí niên nguyên đán cảm tác II, Văn duyệt binh.
    • Ý chí và hành động quyết tâm cứu nước: Thể hiện tinh thần sẵn sàng "vứt bút" theo nghiệp binh đao (Thuật hoài III). Tác giả kiên trì chiến đấu trong ba năm tại căn cứ Đồng Thông (Cảm thuật IV), đồng thời giữ vững niềm tin lạc quan vào tương lai độc lập của dân tộc ngay cả khi bị giam trong ngục tối (Đông chí dương sinh xuân hựu đáo - Đông nhật thuật hoài; Thuật hoài).
    • Tình yêu thiên nhiên đất nước: Miêu tả cảnh quan non sông hùng vĩ như đèo Hải Vân (Đồ quá Hải Vân quan, ngẫu thành), núi Võ Kỳ (Vịnh núi Võ Kỳ I), qua đó thể hiện niềm tự hào dân tộc, biến cảnh sắc thiên nhiên thành động lực khơi dậy ý chí chiến đấu và tinh thần lạc quan.
  • Một số bút pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng yêu nước:
    • Bút pháp hiện thực: Tái hiện chân thực tình cảnh đất nước bị xâm chiếm, nỗi lầm than của nhân dân và hiện trạng mục nát của triều đình phong kiến.
    • Bút pháp châm biếm, trào phúng: Sử dụng ngôn từ đanh thép, hình ảnh mỉa mai sâu cay để lột trần bộ mặt của bọn thực dân và quan lại đầu hàng bán nước.
    • Bút pháp trữ tình: Khắc họa thế giới nội tâm sâu kín, những trăn trở, ưu tư thời thế và ý chí kiên trung của người chí sĩ cách mạng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa toàn bộ cứ liệu lịch sử, cuộc đời cùng di sản văn bản của Nguyễn Xuân Ôn theo bảng đối chiếu sau:

Tiêu chí Chi tiết số liệu và sự kiện trong văn bản
Năm sinh - Năm mất 1825 (Ất Dậu) – 1889 (Kỷ Sửu), thọ 64 tuổi
Quê quán Làng Quần Phương, xã Lương Điền, tổng Thái Xá, huyện Đông Thành (nay là xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An)
Học vị khoa cử Tú tài (1844, 18 tuổi), Cử nhân (1867, 42 tuổi), Tiến sĩ (1871, 48 tuổi)
Quy mô di sản văn học 311 bài thơ chữ Hán (Ngọc Đường thi tập), 22 bài văn xuôi (Ngọc Đường văn tập), các câu đối và thơ Nôm
Quy mô căn cứ Đồng Thông Diện tích khoảng 30 ha tại xã Đông Thành (Yên Thành, Nghệ An), quy tụ khoảng 2.000 nghĩa quân
Các đề xuất cải cách (1883) Hợp tỉnh nhỏ thành trấn lớn; dời tỉnh thành; bớt tiêu dùng xung quân nhu; dứt hòa hảo để khích lệ lòng người
Thời gian bị bắt và cầm tù Bị bắt ngày 25/7/1887 tại Đồng Nhân; giam qua các nhà lao Diễn Châu, Vinh, Hải Dương, Huế; ân xá năm 1889

Kết quả nghiên cứu chính của tác giả Chu Thị Lan Anh:

  • Tái hiện một cách hệ thống và toàn diện chân dung Nguyễn Xuân Ôn trên cả hai bình diện: một lãnh tụ khởi nghĩa Cần Vương kiên cường và một tác gia văn học tài hoa, mộc mạc.
  • Chứng minh tính nhất quán của tư tưởng yêu nước trong Ngọc Đường thi văn tập, phát triển từ ý thức trách nhiệm nam nhi thời trẻ đến hành động quyết liệt đánh giặc và dũng khí bất khuất khi bị giam cầm.
  • Phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng yêu nước và các phương thức biểu đạt nghệ thuật (bút pháp hiện thực, trào phúng, trữ tình).

Về mặt đóng góp so với các công trình đi trước, khóa luận đã vượt qua tính chất khái quát của các bộ giáo trình lịch sử văn học để tiến hành khảo sát trực tiếp, chuyên sâu trên toàn bộ hệ thống tác phẩm của Nguyễn Xuân Ôn, góp phần bổ sung tư liệu nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định một số giới hạn và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo dựa trên phạm vi ngữ liệu:

  • Khóa luận chủ yếu khảo sát văn bản dịch thơ và văn xuôi chữ Hán từ tập Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn (Đinh Xuân Lâm giới thiệu, 1977); chưa đi sâu đối chiếu nguyên bản chữ Hán cũng như chưa sưu tầm đầy đủ mảng thơ Nôm truyền khẩu trong dân gian.
  • Hướng mở rộng tiếp theo là nghiên cứu so sánh đối chiếu thi pháp của Nguyễn Xuân Ôn với các tác giả cùng thời như Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng; đồng thời khảo sát sự tiếp nhận văn học của ông trong hệ thống giáo dục và đời sống văn hóa đương đại.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam cận đại.
  • Người nghiên cứu về phong trào Cần Vương tại Nghệ - Tĩnh và văn học chống thực dân Pháp thế kỷ XIX.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm:

  • Phần trích dẫn, phân tích hệ thống các bài tấu sớ điều trần (năm 1879, 1882, 1883) của Nguyễn Xuân Ôn gửi triều đình Huế.
  • Hệ thống thi phẩm phân tích tinh thần trách nhiệm cá nhân, nỗi căm thù giặc và ý chí kiên trung của tầng lớp văn thân yêu nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Di sản trước tác của Nguyễn Xuân Ôn trong Ngọc Đường thi văn tập bao gồm những gì?
Di sản của ông để lại gồm Ngọc Đường thi tập với 311 bài thơ chữ Hán, Ngọc Đường văn tập với 22 bài văn xuôi, tấu sớ, các câu đối chữ Hán cùng một số bài thơ Nôm được lưu truyền trong nhân dân.

2. Địa bàn và quy mô khởi nghĩa do Nguyễn Xuân Ôn lãnh đạo diễn ra như thế nào?
Nguyễn Xuân Ôn được cử làm An Tĩnh Hiệp thống quân vụ đại thần vào tháng 7/1885. Ông cùng các tướng lĩnh lập căn cứ tại Đại đồn Đồng Thông (rộng khoảng 30 ha, tại xã Đông Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An) với lực lượng nghĩa quân ban đầu lên tới khoảng 2.000 người, chủ yếu là nông dân trai tráng.

3. Nguyễn Xuân Ôn đã đề xuất những nội dung gì trong bản tấu điều trần năm 1883 gửi triều đình?
Trong Tâu điều trần việc nên làm (1883), ông nêu lên bốn đề nghị cụ thể nhằm tăng cường phòng thủ đất nước: hợp các tỉnh nhỏ làm thành trấn lớn, dời các tỉnh thành, bớt tiêu dùng để xung vào quân nhu, và dứt việc hòa hảo để khích lệ lòng người đánh giặc.

4. Khóa luận chia cuộc đời của Nguyễn Xuân Ôn thành những giai đoạn nào?
Cuộc đời Nguyễn Xuân Ôn được chia làm ba giai đoạn: (1) Giai đoạn làm quan cho triều Nguyễn từ năm 1871 đến khi bị cách chức năm 1883; (2) Giai đoạn về quê dựng cờ khởi nghĩa hưởng ứng chiếu Cần Vương từ năm 1885 đến khi bị bắt năm 1887; (3) Giai đoạn bị giam cầm qua các nhà tù và qua đời tại Huế năm 1889.

5. Tinh thần yêu nước trong tác phẩm của Nguyễn Xuân Ôn được biểu hiện qua những khía cạnh nào?
Khóa luận làm rõ bốn biểu hiện chính: ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước; nỗi căm giận sâu sắc đối với kẻ thù xâm lược và bè lũ đầu hàng bán nước; ý chí cùng hành động quyết tâm cứu nước đến cùng; tình yêu thiên nhiên non sông gắn liền với cảm hứng đánh giặc giữ nước.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Chu Thị Lan Anh đã hệ thống hóa toàn diện cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng yêu nước của nhà chí sĩ Nguyễn Xuân Ôn qua tập tác phẩm Ngọc Đường thi văn tập. Công trình làm nổi bật khí tiết kiên trung của một thủ lĩnh phong trào Cần Vương vùng Nghệ - Tĩnh, người đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa hành động cứu quốc và ngòi bút đấu tranh trực diện chống thực dân, phong kiến đầu hàng. Bằng việc phân tích sâu sắc các văn bản thơ, tấu sớ chữ Hán trên nền bối cảnh lịch sử - xã hội nửa cuối thế kỷ XIX, khóa luận đã khẳng định vị trí xứng đáng của Nguyễn Xuân Ôn trong dòng văn học yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc.