Tổng quan luận án
Triều Nguyễn lưu lại một di sản văn hóa, lịch sử và văn chương với khối lượng trước tác lớn trong lịch sử trung đại Việt Nam. Bên cạnh các bộ chính sử quy chuẩn, hệ thống văn chương thời kỳ này phát triển với lực lượng sáng tác đa dạng, trong đó tầng lớp hoàng tộc (vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, các hoàng tử, công chúa) để lại hàng nghìn thi phẩm ngự chế. Mặc dù vậy, mảng văn chương hoàng tộc triều Nguyễn chưa được khảo cứu đầy đủ tương xứng với khối lượng tư liệu hiện có.
Hoàng đế Thiệu Trị (trị vì 1841–1847) để lại một sự nghiệp văn chương quy mô gồm 4 tập Ngự chế thi, 2 tập Ngự chế văn cùng nhiều tập thơ chuyên đề. Trong số đó, Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập (御製古今體格詩法集) gồm 157 bài (chương) với khoảng 72 thể cách thi pháp cổ kim và tân sáng là một tác phẩm điển hình về kỹ thuật thi luật và nghệ thuật ngôn từ chữ Hán. Mặc dù tác phẩm hiện còn lưu giữ bản in, bản chép tay và nguồn mộc bản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt), song chưa có công trình nào khảo cứu toàn diện về mặt văn bản học, đối hiệu các dị bản và phân tích hệ thống thể cách thi pháp của toàn bộ tập thơ. Luận án tiến sĩ ngữ văn, chuyên ngành Hán Nôm của nghiên cứu sinh Phan Thanh Việt với đề tài "Nghiên cứu văn bản Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập" (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2022) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Làm rõ quá trình hình thành văn bản, khảo dị, xác định và bổ khuyết thiện bản của tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập.
- Luận giải hệ thống thể cách thi pháp và đặc điểm nội dung của tập thơ.
- Làm rõ vai trò của Thiệu Trị trên cương vị một vị hoàng đế gắn với bối cảnh lịch sử đương thời, đồng thời xác lập vị trí của ông như một tác gia văn học và nhà nghiên cứu thi học trung đại.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Khái quát tổng quan các nghiên cứu liên quan đến văn bản tác phẩm; giới thiệu thân thế, sự nghiệp chính trị và văn chương của Thiệu Trị.
- Khảo cứu văn bản học, đối hiệu giữa các dị bản, xác định thiện bản và bổ khuyết nội dung cho thiện bản.
- Khảo sát đặc điểm nghệ thuật thể cách thi pháp, phân định thể cách kế thừa cổ nhân và thể cách tân sáng; đánh giá đóng góp thi học của tác giả.
- Phân tích các chủ đề nội dung nổi bật trong tác phẩm dựa trên quan niệm sáng tác của tác giả, chỉ ra mối liên hệ giữa hình thức thể cách và nội dung biểu đạt.
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là văn bản tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, mở rộng tham chiếu tới các tập thơ văn ngự chế khác của Thiệu Trị. Phạm vi không gian tư liệu khảo sát tập trung tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Khoa học Xã hội (Hà Nội), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt) và di tích cung đình Huế. Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn trị vì của vua Thiệu Trị (1841–1847), mở rộng đến thời Tự Đức khi các tập thơ ngự chế tiếp tục được san khắc hoàn tất.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đối tượng của luận án được tác giả phân chia theo các nhóm tư liệu và công trình học thuật:
Ghi chép trong chính sử và di văn miếu điện: Bộ Đại Nam thực lục và Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi nhận quá trình vua Thiệu Trị lệnh cho Nội các trích chọn thơ từ Thiệu Trị Ngự chế thi để biên soạn Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, cũng như ghi chép các chùm thơ vịnh cảnh cung Bảo Định (12 cảnh), Doanh Châu (22 cảnh), vườn Cơ Hạ (14 cảnh), hồ Tĩnh Tâm, vườn Thư Quang, vườn Thường Mậu. Trên kiến trúc cung đình, điện Long An (xây dựng năm 1845) lưu giữ các bài thơ khảm cẩn xà cừ theo thể hồi văn kiêm liên hoàn như Vũ trung sơn thủy, Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm, bài minh Ngự diên văn bảo minh phỏng theo Lương Vũ Đế, cùng hàng trăm bài thơ khắc theo thể thức "nhất thi nhất họa".
Thư mục học và số hóa: Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu của Trần Nghĩa và François Gros ghi nhận các bản Thiệu Trị Ngự chế thi (ký hiệu A.135/1-13, VHv.72/1-11). Tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập được ghi nhận qua các ký hiệu A.3052, A.1960, AB.123, VHv.1165, A.1877 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; các bản R.1597, R.1598 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam; và khối mộc bản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV được thống kê sơ bộ trong Mộc bản triều Nguyễn - Đề mục tổng quan.
Nghiên cứu về tiểu sử và sự nghiệp văn chương Thiệu Trị: Các bộ sử như Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, Nguyễn Phúc tộc thế phả cung cấp thông tin thân thế và niên biểu chính trị. Về văn chương, nhóm tác giả Phan Thuận An, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phước Hải Trung (1998) nghiên cứu chùm thơ Thần kinh nhị thập cảnh; Vĩnh Cao và Phan Thanh Hải (2003) nghiên cứu thơ vịnh vườn Thiệu Phương; Kỷ yếu hội thảo năm 2015 tại Huế tập hợp các nghiên cứu của Ngô Thời Đôn, Phạm Đức Thành Dũng, Trần Đại Vinh, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Lê Thị Mỹ Châu về thơ khắc trên điện Long An, điện Biểu Đức; Phan Đăng và Nguyễn Phố (2019) nghiên cứu thơ ngự chế tại chùa Thiên Mụ; Nguyễn Huy Khuyến xác định tác giả tập Ngự chế Bắc tuần thi tập và khảo sát việc phân loại thơ ngự chế Minh Mạng - Thiệu Trị trong mộc bản; Nguyễn Phước Hải Trung nghiên cứu thi pháp không gian nghệ thuật thơ cung đình; các luận văn, khóa luận của Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Thị Huyền Trang, Phạm Thị Lê, Lưu Thị Nhận tiếp cận một số khía cạnh tác phẩm riêng lẻ.
Nghiên cứu riêng về Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập: Suốt giai đoạn từ 1847 đến 1960, tác phẩm hầu như chưa có công trình khảo cứu riêng. Từ năm 1960, Việt Nam khảo cổ tập san số 1 bắt đầu công bố hình ảnh và kêu gọi giải mã hai bài thơ hồi văn. Pierre Daudin (1972) công bố bài viết về thơ anacyclique của Thiệu Trị với 12 cách đọc giải mã bước đầu. Năm 1994, Nguyễn Tân Phong giải mã trọn vẹn 64 bài thơ (32 thất ngôn tứ tuyệt, 32 ngũ ngôn tứ tuyệt) từ bài thơ đồ hình bát quái. Năm 1998, Nguyễn Tài Cẩn công bố chuyên khảo Tìm hiểu kỹ xảo Hồi văn liên hoàn trong bài Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị, giải mã hệ thống 4 vận Canh - Chấn - San - Dạng và phát triển cách đọc lên 128 bài thơ. Tiếp đó, Nguyễn Phước Hải Trung (2002), Bùi Văn Chất (2007) giới thiệu các phương thức chơi chữ; Nguyễn Huy Khuyến (2014) khảo sát 10 bài minh khắc trên biển đồng ở Trai cung đàn Nam Giao; Nguyễn Tuấn Cường (2015) phân tích đặc trưng văn tự đơn âm tiết của bài thơ hồi văn; Nguyễn Thanh Tùng khảo cứu hai bài thơ lục ngôn chữ Hán (Cổ độ cô chu, Vãn thiếu).
Khoảng trống học thuật: Các công trình trước đây chỉ tập trung vào một vài tác phẩm cục bộ (đặc biệt là bài Vũ trung sơn thủy hoặc các bài minh ở Trai cung), chưa khảo sát toàn diện 157 bài thơ cùng 72 thể cách thi pháp của toàn tập. Về văn bản học, chưa có công trình nào tiến hành đối hiệu giữa các bản in, bản chép tay và mộc bản triều Nguyễn, chưa phát hiện và đính chính các sai sót thư mục học, cũng như chưa phục dựng một thiện bản đầy đủ cho tác phẩm. Luận án lựa chọn giải quyết trực tiếp toàn bộ các khoảng trống văn bản học và thi học này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc chuyên ngành Hán Nôm, định hướng nghiên cứu định tính, sử dụng khung phân tích văn bản học Hán Nôm cổ điển kết hợp lý thuyết thi pháp học phương Đông.
Khung lý thuyết và khái niệm:
- Lý thuyết văn bản học Hán Nôm: Tiếp cận văn bản tác phẩm thông qua lịch sử truyền bản, cấu trúc hình thức, niên đại san khắc, khảo dị đối sánh giữa các dị bản nhằm xác lập thiện bản. Tác giả mở rộng khái niệm nghiên cứu tác gia theo truyền thống ngữ văn học cổ điển, khảo sát cả đội ngũ đại thần Nội các phụ trách biên tập, khảo hiệu, sao chép và giám sát san khắc.
- Thi pháp học phương Đông: Vận dụng hệ thống khái niệm về "thể" (thể loại, hình thức kết cấu) và "cách" (cách luật, quy cách luật thi, niêm vận, đối ngẫu) trong thi học cổ điển Trung Quốc và Việt Nam để phân loại, thẩm định giá trị của các thể cách cổ kim và thể cách tân sáng.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp văn bản học: Khảo sát thực trạng lưu trữ, đối chiếu chữ khắc của mộc bản với bản in và bản chép tay; khảo dị từng mặt chữ, cấu trúc trang, mục lục; phát hiện sai sót, khiếm khuyết trong các truyền bản và xây dựng phương án bổ khuyết thiện bản.
- Phương pháp thi pháp học kiểu phương Đông: Phân tích quy cách niêm luật, vần điệu, cách ngắt nhịp, thủ pháp lặp chữ, đảo vận, biến hóa câu chữ trong các thể thơ truyền thống (Minh, Hồi văn liên hoàn, Thủ vỹ ngâm, Thiền liên, Lục ngôn, Tạp số thể, Cung điện thể) và các thể do tác giả tự sáng tạo.
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Đặt tác phẩm vào bối cảnh lịch sử triều Thiệu Trị; khảo sát cuộc đời, tư tưởng chính trị, chính sách chấn hưng văn trị và các quan hệ bang giao của tác giả.
- Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa tại các di tích gắn liền với thơ ngự chế của Thiệu Trị tại Huế (điện Long An, Xương Lăng, Khiêm Lăng, chùa Diệu Đế, tháp Phước Duyên và đình Hương Nguyện tại chùa Thiên Mụ) để kiểm chứng văn bản khắc trên gỗ, đồng, đá và tranh gương.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức Hán Nôm với thi pháp học, lịch sử học, địa lý học, văn hóa học cung đình; sử dụng các thao tác kỹ thuật như thống kê, phân loại, so sánh đối chiếu.
Nguồn dữ liệu: Hệ thống bản in (ký hiệu A.3052), các bản chép tay (A.1960, AB.123, VHv.1165, A.1877) tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm; bản in R.1597, R.1598 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam; 148 mặt khắc mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV; các bộ sử sách Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Châu bản triều Nguyễn.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu từ các nguồn chính sử, di văn kiến trúc đến các công trình học thuật cận - hiện đại. Luận án khảo sát toàn diện thân thế vua Thiệu Trị (1807–1847, tên húy Nguyễn Phúc Miên Tông, khi lên ngôi đổi tên thành Tuyền). Thiệu Trị là con trưởng của vua Minh Mạng và Thuận Đức Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa, lên ngôi năm Tân Sửu (1841) ở tuổi 34, lấy tôn chỉ trị nước là Kính thiên, Pháp tổ, Cần chính, Ái dân. Về chính trị, Thiệu Trị thi hành chính sách ổn định bộ máy, chăm lo đê điều, đích thân cày ruộng Tịch điền, khuyến nông, khai khẩn đất hoang vùng biên cương; duy trì chính sách bang giao "Nhu viễn", bình định bất ổn biên giới phía Nam (loạn Xiêm và Chân Lạp tại Trấn Tây thành); cấm đạo Gia-tô theo khuôn phép cũ; tổ chức 11 khoa thi Hương và thi Hội trong 7 năm; đốc thúc biên định và khắc in các bộ chính sử lớn (Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ). Về Phật giáo, vua giữ tinh thần "cư Nho mộ Thích", đổi tên chùa Ấn Tông thành Từ Đàm (1841), sắc dựng chùa Diệu Đế (1844), đại trùng tu chùa Thiên Mụ và dựng tháp Phước Duyên (1844).
Về sự nghiệp văn chương, luận án lập bảng thống kê toàn bộ 16 tập thi văn ngự chế của Thiệu Trị với khoảng 3.647 bài thơ, phân bố trong các bộ sách chính:
| STT |
Tên tác phẩm |
Quyển |
Tình trạng biên soạn / lưu trữ |
| 1 |
Thiệu Trị Ngự chế thi sơ tập |
16 quyển (13 quyển chính, 3 mục lục) |
Soạn và in xong năm 1843 (650 bài). Lưu trữ tại VNCHN. |
| 2 |
Thiệu Trị Ngự chế thi nhị tập |
20 quyển (15 quyển chính, 5 mục lục) |
Soạn và in xong năm 1845. Lưu trữ tại VNCHN. |
| 3 |
Thiệu Trị Ngự chế thi tam tập |
25 quyển (20 quyển chính, 5 mục lục) |
Hoàn thành in năm 1848 thời Tự Đức. Lưu trữ tại VNCHN. |
| 4 |
Thiệu Trị Ngự chế thi tứ tập |
10 quyển (7 quyển chính, 3 mục lục) |
Hoàn thành in năm 1848 thời Tự Đức (326 bài). Lưu trữ tại VNCHN. |
| 5 |
Minh Lương hỷ khởi tập |
1 quyển |
Sắc lệnh biên soạn năm 1843. |
| 6 |
Hoàng Huấn cửu thiên |
1 quyển |
Soạn năm 1847. Lưu trữ tại VNCHN. |
| 7 |
Ngự chế Bắc tuần thi tập |
5 quyển |
Khắc in năm 1844. Mộc bản tại TTLTQG IV. |
| 8 |
Ngự đề đồ hội thi tập |
16 quyển (14 quyển chính, 2 mục lục) |
Khắc in năm 1844, xong năm 1845. Lưu trữ tại VNCHN. |
| 9 |
Chỉ Thiện Đường thi văn hội tập |
13 quyển (10 quyển thơ, 3 quyển văn) |
Hoàn thành năm 1845 (gồm 683 bài thơ thời tiềm để). |
| 10 |
Ngự chế Tài thành Phụ tướng tiên thiên hậu thiên thi tập |
2 quyển |
Biên soạn năm 1847. Lưu trữ tại VNCHN. |
| 11 |
Ngự chế vũ công thi tập |
10 quyển (8 quyển chính, 2 mục lục) |
Biên soạn xong năm 1847. Mộc bản tại TTLTQG IV. |
| 12 |
Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập |
4 quyển (3 quyển chính, 1 mục lục) |
Biên soạn xong tháng 9/1847. Bản in, chép, mộc bản. |
| 13 |
Thiệu Trị Ngự chế văn sơ tập |
Đang lưu trữ |
Lưu trữ tại VNCHN. |
| 14 |
Thiệu Trị Ngự chế văn nhị tập |
Đang lưu trữ |
Lưu trữ tại VNCHN. |
| 15 |
Thiệu Trị văn quy |
Sách âm vận văn chương |
Biên soạn năm 1845, hoàn thành năm 1848. |
| 16 |
Ngự chế lịch đại sử tổng luận |
1 tựa |
Biên soạn năm 1846, in năm 1847. |
Tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập gồm 157 bài thơ, trích từ bộ Thiệu Trị Ngự chế thi, đại diện cho ý thức đúc kết thi học và thúc đẩy văn trị của nhà vua.
CHƯƠNG 2: KHẢO CỨU VĂN BẢN NGỰ CHẾ CỔ KIM THỂ CÁCH THI PHÁP TẬP
Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề văn bản học thuần túy:
- Nhân duyên và thời điểm hình thành: Tiết Thanh Minh tháng 2 năm Đinh Mùi (Thiệu Trị thứ 7, 1847), vua Thiệu Trị hạ lệnh cho Nội các tuyển chọn từ các tập thơ ngự chế những bài có thể cách đặc biệt xưa nay để biên soạn thành sách ban phát cho sĩ phu. Tác phẩm hoàn thành vào ngày 9 tháng 9 năm Đinh Mùi (1847), được vua ngự phê chữ "Khả" đồng ý cho khắc in. Vua Thiệu Trị qua đời ngày 27 tháng 9 năm 1847 (sau đó 18 ngày), do đó việc san khắc và in ấn hoàn tất vào đầu triều Tự Đức.
- Ban biên định: Gồm các đại thần Nội các phụ trách các khâu: Phụng chỉ vị tập (Nguyễn Bá Nghi, Tôn Thất Cáp, Nguyễn Cửu Trường, Vũ Phạm Khải); Phụng chỉ khảo hiệu (Mai Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Thọ, Nguyễn Đăng Tuyển, Nguyễn Phiên, Phan Văn Khả); Phụng chỉ đằng lục (Dương Văn Du); Phụng chỉ giám tạo san khắc (Nguyễn Đăng Giai).
Luận án tiến hành kiểm kê, phân loại hiện trạng văn bản qua bảng tổng hợp lưu trữ:
| Cơ quan lưu trữ |
Ký hiệu văn bản |
Loại hình |
Số quyển |
Số tờ / trang hiện có |
Tình trạng và khiếm khuyết |
| Viện Nghiên cứu Hán Nôm |
A.3052 |
Bản in |
Quyển 1 |
47 tờ (94 trang) |
Khuyết các tờ 7b, 8a, 10b, 11a. |
| Viện Nghiên cứu Hán Nôm |
A.1960 |
Chép tay |
4 quyển |
97 tờ (194 trang) |
Trùng tờ 2b, 3b quyển mục lục; khuyết một số bài và phụ lục nguyên thể ở các quyển. |
| Viện Nghiên cứu Hán Nôm |
AB.123, VHv.1165, A.1877 |
Chép tay |
Trích lục |
54 đến 150 trang |
Bản chép tuyển đoạn, phục vụ tham khảo. |
| Thư viện Quốc gia Việt Nam |
R.1597 |
Bản in |
Quyển mục lục |
45 tờ (90 trang) |
Còn nguyên bìa son, bài Biểu và tổng mục. |
| Thư viện Quốc gia Việt Nam |
R.1598 |
Bản in |
Quyển 3 |
44 tờ (88 trang) |
Thiếu tờ 30; có dấu hiệu mối mọt nhẹ. |
| Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV |
Mộc bản triều Nguyễn |
Ván khắc |
4 quyển |
148 tờ (296 trang) |
Mục lục thiếu 15 tờ (11 tờ bài Biểu, tờ 13-16); Quyển 1 thiếu tờ 47; Quyển 2 thiếu tờ 11, 12, 25, 26, 35, 36 (trùng tờ 27). |
Luận án chỉ ra sai sót của Thư viện Quốc gia khi xếp nhầm bản R.1600 (thực chất là quyển mục lục) và bản ký hiệu nhầm là quyển 5–6 (thực chất thuộc Thiệu Trị Ngự chế thi tứ tập). Trên cơ sở đối hiệu giữa mộc bản, bản in A.3052, R.1597, R.1598, bản chép tay A.1960 và nguồn đối chiếu Thiệu Trị Ngự chế thi, tác giả lập bảng đối hiệu chi tiết, phục hồi đầy đủ các tờ khuyết thiếu trong bài Biểu và các bài thơ, từ đó xác lập một thiện bản hoàn chỉnh. Về cấu trúc, tác phẩm gồm 4 quyển: Quyển mục lục (chứa bài Biểu và mục lục chi tiết), Quyển nhất, Quyển nhị và Quyển tam, bao hàm 157 bài thơ cùng toàn bộ lời tựa dẫn của tác giả.
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM NGỰ CHẾ CỔ KIM THỂ CÁCH THI PHÁP TẬP
Chương 3 phân tích quan niệm thi pháp học của Thiệu Trị, phân định rạch ròi giữa thể thức truyền thống và sáng tạo cá nhân. Tác giả sử dụng khoảng 72 thể cách, được chia thành hai nhóm chính:
Thể cách thi pháp cổ kim (kế thừa cổ nhân): Bao gồm các thể thơ cổ phong, cận thể, cùng các dạng thức thi luật phức tạp:
- Hồi văn kiêm liên hoàn: Tiêu biểu là bài Vũ trung sơn thủy (Quyển nhất), sắp xếp 56 chữ theo đồ hình bát quái tròn, sử dụng 4 vần Canh - Chấn - San - Dạng, có thể đọc xuôi ngược tạo thành hàng chục bài thơ tứ tuyệt và luật thi thất ngôn, ngũ ngôn.
- Thể Minh: Chùm 10 bài minh khắc trên biển đồng treo trên các cây thông ở Trai cung đàn Nam Giao, dùng thể văn bốn chữ nghiêm trang phục vụ nghi lễ tế trời đất.
- Các thể luật thi đặc biệt: Thủ vỹ ngâm (câu đầu và câu cuối trùng nhau, như bài Quý thu); Thiền liên thể (câu sau nối chữ câu trước); Lục ngôn thể (thơ sáu chữ chữ Hán, như bài Cổ độ cô chu, Vãn thiếu); Tạp số thể (phỏng Bào Chiếu thời Lục triều, đan cài từ số một đến mười kết hợp thất ngôn luật và số tổng, như bài Phú đắc ký vũ tình diệc giai); Cung điện thể; Cô nhạn xuất quần cách (câu đầu mượn vần lạc sang nhóm khác).
Thể cách thi pháp tân sáng (do Thiệu Trị tự sáng tạo): Gồm 15 thể cách mới ("tân sáng" hoặc "tự sáng"). Điển hình nhất là thể Toàn chuyển chu hoàn thể trong bài thơ Trì đường sơ hạ lâm hứng thủy tạ phóng ngâm (池塘初夏臨興水榭放吟). Cấu trúc vòng tròn luân chuyển cho phép đọc biến hóa thành 96 bài thơ hoàn chỉnh. Ngoài ra còn có Giản ước thể (phỏng theo lối chiết tự thi nhưng lược giản câu chữ) trong các bài Đề Nghiêm Tử lăng đồ, Đề Lý Bí đồ.
Qua phân tích nghệ thuật, luận án đánh giá tác phẩm không chỉ là một tập thơ ngâm vịnh mà còn đóng vai trò như một bộ cẩm nang quy phạm về thi pháp học, thể hiện trình độ xử lý ngôn ngữ Hán đơn âm tiết và ý thức xây dựng nền văn hiến độc lập dưới triều Nguyễn.
CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM NGỰ CHẾ CỔ KIM THỂ CÁCH THI PHÁP TẬP
Chương 4 khảo cứu sự thống nhất giữa hình thức thi pháp phức tạp và nội hàm tư tưởng của tác phẩm qua hai vai trò của tác giả:
Cương vị một Hoàng đế:
- Trị quốc an dân theo tư tưởng Nho giáo: Khẳng định đạo trị nước lấy "Chỉ ư chí thiện" trong sách Đại học làm cốt lõi, đề cao đức trị, tiết kiệm chi dùng công, răn mình qua các bài minh.
- Chấn hưng văn trị: Thể hiện ý chí mở mang nền văn hiến của đất nước qua các sáng tác ngâm vịnh văn hóa, đề cao việc học tập kinh sử, mở khoa thi, xem văn chương sáng rỡ như tinh tú để làm đẹp cho non sông.
- Quan tâm nông nghiệp và đời sống muôn dân: Thơ làm khi tế lễ Tịch điền, khuyến nông, lo lắng trước thiên tai mất mùa, cầu mong thóc lúa đầy kho cho trăm họ ấm no.
Cương vị một thi nhân:
- Tình cảm hiếu kính với phụ hoàng Minh Mạng: Nhớ ơn giáo dưỡng, kiên định giữ gìn gia pháp và cơ nghiệp do tiên đế để lại.
- Tình cảm gắn bó với thiên nhiên non nước: Khắc họa cảnh sắc danh thắng kinh đô Phú Xuân (sông Hương, núi Ngự, vườn Cơ Hạ, hồ Tĩnh Tâm, điện Long An, chùa Thiên Mụ), thể hiện một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm trước biến chuyển thời tiết, cảnh sắc bốn mùa và cuộc sống thanh bình của dân dã thôn quê.
Luận án khẳng định nội dung tư tưởng của tập thơ gắn bó mật thiết với thể cách: việc lựa chọn thể loại nghiêm cẩn, phức tạp không đơn thuần là trò chơi chữ mà là phương tiện khẳng định quy củ trật tự phong kiến và sự hưng thịnh của một vương triều thái bình.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận và học thuật:
- Luận án cung cấp cái nhìn tổng quan, hệ thống về văn bản tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập và sự nghiệp trước tác đồ sộ của vua Thiệu Trị gồm 16 tập thi văn với khoảng 3.647 bài thơ.
- Xác định và luận giải có căn cứ khoa học hệ thống 72 thể cách thi pháp trong tác phẩm, phân định rạch ròi giữa thể cách kế thừa cổ thể - cận thể của thơ ca Trung Quốc và 15 thể cách tân sáng do Thiệu Trị tự chế tác, khẳng định giá trị thi học của tác phẩm đối với nền văn học trung đại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn văn bản học:
- Khảo sát toàn diện hiện trạng lưu trữ của tác phẩm tại 3 trung tâm lưu trữ lớn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV).
- Phát hiện, đính chính các nhầm lẫn về số quyển và đề mục của Thư viện Quốc gia Việt Nam (đối với các bản R.1600, R.1597).
- Tiến hành đối hiệu chi tiết giữa các dị bản in, chép tay và nguồn mộc bản gốc; đối chiếu toàn diện 157 bài thơ với bộ tổng tập Thiệu Trị Ngự chế thi; phục nguyên thành công các tờ mục lục, bài Biểu và các bài thơ khuyết thiếu, xác lập một văn bản thiện bản hoàn chỉnh làm cơ sở cho công tác nghiên cứu, phiên dịch và công bố sau này.
Kiến nghị đề xuất:
- Cần ghi nhận Hoàng đế Thiệu Trị với tư cách một tác gia văn học lớn và một nhà nghiên cứu thi pháp học trong các công trình lịch sử văn học, giáo trình đại học và từ điển văn học Việt Nam.
- Tiếp tục tổ chức phiên dịch trọn vẹn văn bản tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập cũng như toàn bộ kho tàng thơ văn ngự chế triều Nguyễn đang lưu giữ trong hệ thống mộc bản để phục vụ nghiên cứu di sản văn hiến dân tộc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào diện mạo văn bản học và đặc điểm thể cách, nội dung của tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập; chưa thể dịch chú toàn văn 157 bài thơ chữ Hán và toàn bộ các dị bản giải mã của từng thể thơ sang tiếng Việt hiện đại do dung lượng giới hạn của luận án tiến sĩ.
- Tư liệu khảo sát văn bản tập trung ở ba cơ quan lưu trữ trong nước; chưa mở rộng so sánh văn bản học với các bản sao thơ ngự chế có thể còn lưu lạc tại các thư viện nước ngoài.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiến hành dịch nghĩa, phiên âm và chú giải toàn tập 157 tác phẩm cùng bảng giải thuật chi tiết cho 72 thể cách thi pháp để xuất bản thành sách chuyên khảo.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh thể cách tân sáng của Thiệu Trị với các trào lưu thơ chơi chữ, thơ liên hoàn tại các nước đồng văn Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) thời trung - cận đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Hán Nôm, Văn học trung đại Việt Nam và Lịch sử triều Nguyễn khi nghiên cứu văn bản học cổ điển và thi pháp học thi ca cung đình.
- Giảng viên các trường đại học sư phạm, khoa ngữ văn, khoa lịch sử trong việc bổ sung tư liệu giảng dạy về tác gia văn học triều Nguyễn.
- Cán bộ nghiên cứu, quản lý di sản tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV trong công tác giải mã, bảo tồn và phục dựng hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế cũng như hệ thống mộc bản triều Nguyễn.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 về quy trình khảo dị bổ khuyết thiện bản mộc bản liên kho lưu trữ và Chương 3 về bảng tổng hợp phân loại 72 thể cách thi pháp.
Câu hỏi thường gặp
-
Tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập có mối quan hệ văn bản học như thế nào với bộ tổng tập Thiệu Trị Ngự chế thi?
Tác phẩm là bản trích lục chuyên đề từ Thiệu Trị Ngự chế thi. Vào tháng 2 năm 1847, Thiệu Trị lệnh cho Nội các chọn các bài có thể cách đặc biệt xưa nay từ các bản khắc Ngự chế thi sơ tập, nhị tập và bản cảo tam tập, tứ tập gom lại thành 157 bài. Khảo sát của luận án cho thấy toàn bộ 157 bài thơ đều tương thích hoàn toàn với nội dung trong 4 tập Thiệu Trị Ngự chế thi.
-
Những đại thần Nội các nào đã trực tiếp tham gia biên định tác phẩm vào năm 1847?
Ban biên định gồm: Phụng chỉ vị tập (Nguyễn Bá Nghi, Tôn Thất Cáp, Nguyễn Cửu Trường, Vũ Phạm Khải); Phụng chỉ khảo hiệu (Mai Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Thọ, Nguyễn Đăng Tuyển, Nguyễn Phiên, Phan Văn Khả); Phụng chỉ đằng lục (Dương Văn Du); và Phụng chỉ giám tạo san khắc (Binh Bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Giai).
-
Hiện trạng tư liệu mộc bản của tác phẩm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV - Đà Lạt còn lại bao nhiêu tấm và khuyết thiếu những gì?
Mộc bản hiện còn 148 tờ (tương đương 148 mặt khắc, in ra 296 trang) chia làm 4 quyển: Quyển mục lục còn 30 tờ (thiếu 15 tờ, gồm 11 tờ bài Biểu và tờ 13–16); Quyển nhất còn 46 tờ (thiếu tờ 47); Quyển nhị thiếu các tờ 11, 12, 25, 26, 35, 36 và bị trùng số tờ 27; Quyển tam còn lại tương đối rõ nét.
-
Khác biệt cốt lõi giữa thể cách "cổ kim" và "tân sáng" trong tập thơ là gì?
Thể cách "cổ kim" là các quy tắc thi luật kế thừa từ cổ nhân (Minh, Hồi văn liên hoàn, Thủ vỹ ngâm, Lục ngôn, Tạp số thể, Cung điện thể); thể cách "tân sáng" (15 thể) là do chính Thiệu Trị tự nghĩ ra quy tắc kết cấu mới, tiêu biểu là Toàn chuyển chu hoàn thể trong bài Trì đường sơ hạ lâm hứng thủy tạ phóng ngâm (đọc vòng tròn thành 96 bài thơ) và Giản ước thể (lược giản thể chiết tự).
-
Luận án đã phát hiện những sai sót thư mục nào tại Thư viện Quốc gia Việt Nam liên quan đến tác phẩm?
Thư viện Quốc gia ghi nhận nhầm bản ký hiệu R.1600 là Quyển nhất nhưng thực chất là Quyển mục lục; ghi nhận nhầm bản ký hiệu R.1597 là Quyển 5–6 của tập thơ này, trong khi thực tế tác phẩm chỉ có 4 quyển, còn tập sách đó chính là Quyển 5–6 thuộc Thiệu Trị Ngự chế thi tứ tập.
Kết luận
Luận án của Phan Thanh Việt là công trình chuyên khảo toàn diện đầu tiên về văn bản tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập của Hoàng đế Thiệu Trị. Bằng phương pháp văn bản học nghiêm ngặt kết hợp thi pháp học phương Đông, luận án đã xác lập một thiện bản hoàn chỉnh từ các nguồn mộc bản và dị bản in, chép tay hiện có. Kết quả nghiên cứu không chỉ phục hồi diện mạo văn bản học của một tác phẩm thi học tiêu biểu mà còn làm sáng tỏ những đóng góp về thể cách của Thiệu Trị, khẳng định vị thế của ông như một tác gia văn học và nhà nghiên cứu thi pháp trong nền văn học trung đại Việt Nam.