Tính Mơ Hồ Trong Cấu Trúc Văn Bản Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tính mơ hồ trong cấu trúc văn bản truyện kiều của nguyễn du, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề

Chuyên ngành

Lí Luận Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

171
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tính mơ hồ trong diễn ngôn lý luận phê bình văn học phương Đông và phương Tây

1.2. Tính mơ hồ trong thực tiễn lý luận phê bình ở Việt Nam

1.3. Nghiên cứu tính mơ hồ ở cấp độ dẫn nhập lý thuyết

1.4. Nghiên cứu tính mơ hồ ở cấp độ vận dụng

1.5. Những hướng nghiên cứu có liên quan đến tính mơ hồ trong Truyện Kiều

1.6. Nghiên cứu Truyện Kiều từ ngôn ngữ học

1.7. Nghiên cứu Truyện Kiều từ thi pháp học

1.8. Nghiên cứu Truyện Kiều dưới góc nhìn tiếp nhận văn học

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TÍNH MƠ HỒ TRONG CẤU TRÚC VĂN BẢN VĂN HỌC NHÌN TỪ LÝ THUYẾT CỦA W.

2.1. Vấn đề về thuật ngữ

2.2. Công trình “Bảy loại hình mơ hồ” của W. Empson và khái niệm tính mơ hồ

2.3. Văn bản văn học và tính mơ hồ trong cấu trúc văn bản văn học

2.4. Cơ sở hình thành tính mơ hồ trong cấu trúc văn bản văn học

2.5. Bản chất tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ

2.6. Bản chất của văn bản văn học

2.7. Bản chất của quá trình tiếp nhận

2.8. Ý nghĩa của tính mơ hồ trong cấu trúc văn bản văn học

2.9. Mơ hồ - phẩm chất thẩm mỹ của văn bản văn học

2.10. Mơ hồ - phương thức biểu hiện thế giới phong phú, sâu sắc và tinh tế

2.11. Mơ hồ - thúc đẩy khả năng đồng sáng tạo của người đọc

2.12. Lược sử các phương thức biểu hiện tính mơ hồ trong văn học Việt Nam nhìn từ cấu trúc văn bản nghệ thuật

2.13. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TÍNH MƠ HỒ TRÊN BÌNH DIỆN NGÔN TỪ TRUYỆN KIỀU

3.1. Các cấp độ biểu hiện tính mơ hồ trong ngôn từ Truyện Kiều

3.2. Mơ hồ ở cấp độ ngữ âm

3.3. Mơ hồ ở cấp độ từ vựng

3.4. Mơ hồ ở cấp độ cú pháp

3.5. Nguyên tắc biểu hiện tính mơ hồ trong ngôn từ Truyện Kiều

3.6. Nguyên tắc lấp lửng của ca dao

3.7. Nguyên tắc Đường thi

3.8. Nguyên tắc lạ hóa, phá vỡ mọi quy phạm

3.9. Mỹ cảm của tính mơ hồ trong ngôn từ Truyện Kiều

3.10. Tính trò chơi

3.11. Tô đậm chất duy tình

3.12. Tô đậm chất duy cảm

3.13. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: TÍNH MƠ HỒ TRÊN BÌNH DIỆN HÌNH TƯỢNG TRUYỆN KIỀU

4.1. Tính mơ hồ trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người kể chuyện của Truyện Kiều

4.2. Tính không cố định của điểm nhìn người kể chuyện

4.3. Sự biến hóa phức tạp của giọng điệu người kể chuyện

4.4. Tính mơ hồ trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật của Truyện Kiều

4.5. Nhân vật là một bản thể mâu thuẫn

4.6. Tính khả biến của nhân vật

4.7. Tính mơ hồ và quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du trong Truyện Kiều

4.8. Quan niệm nghệ thuật về con người đấng bậc

4.9. Quan niệm nghệ thuật về con người bình thường

4.10. Tiểu kết chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tính Mơ Hồ Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Tính mơ hồ là một khía cạnh quan trọng trong cấu trúc văn bản của Truyện Kiều. Tác phẩm không chỉ đơn thuần là một câu chuyện tình yêu mà còn chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc. Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng ngôn từ để tạo ra những hình ảnh và biểu tượng phong phú, khiến cho người đọc có thể cảm nhận được sự đa dạng trong cách hiểu và cảm thụ. Điều này không chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du mà còn phản ánh bản chất của đời sống con người với những mâu thuẫn và phức tạp.

1.1. Khái Niệm Tính Mơ Hồ Trong Văn Học

Tính mơ hồ trong văn học được hiểu là sự tồn tại đồng thời của nhiều ý nghĩa trong một ngữ cảnh nhất định. Điều này tạo ra không gian cho người đọc tự do diễn giải và cảm nhận tác phẩm theo cách riêng của mình.

1.2. Vai Trò Của Tính Mơ Hồ Trong Truyện Kiều

Trong Truyện Kiều, tính mơ hồ không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn tạo ra sự hấp dẫn cho tác phẩm. Người đọc có thể khám phá nhiều chiều sâu khác nhau của nhân vật và tình huống, từ đó làm tăng giá trị thẩm mỹ của văn bản.

II. Những Thách Thức Khi Nghiên Cứu Tính Mơ Hồ Trong Truyện Kiều

Việc nghiên cứu tính mơ hồ trong Truyện Kiều gặp phải nhiều thách thức. Một trong số đó là sự đa dạng trong cách hiểu và cảm nhận của người đọc. Mỗi người có thể có những trải nghiệm và bối cảnh khác nhau, dẫn đến những cách diễn giải khác nhau về cùng một đoạn văn. Điều này làm cho việc xác định ý nghĩa chính xác trở nên khó khăn.

2.1. Sự Đa Dạng Trong Cảm Nhận Của Người Đọc

Mỗi độc giả có một bối cảnh văn hóa và tâm lý riêng, điều này ảnh hưởng đến cách họ tiếp cận và hiểu Truyện Kiều. Sự khác biệt này tạo ra một thách thức lớn trong việc nghiên cứu tính mơ hồ.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Xác Định Ý Nghĩa

Tính mơ hồ khiến cho việc xác định một ý nghĩa duy nhất trong Truyện Kiều trở nên khó khăn. Các nhà nghiên cứu cần phải xem xét nhiều khía cạnh khác nhau để có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tính Mơ Hồ Trong Truyện Kiều

Để nghiên cứu tính mơ hồ trong Truyện Kiều, cần áp dụng các phương pháp phân tích văn bản và lý thuyết nghệ thuật. Việc phân tích ngôn từ, hình tượng và cấu trúc sẽ giúp làm rõ hơn những biểu hiện của tính mơ hồ trong tác phẩm. Các phương pháp này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn mở ra những hướng nghiên cứu mới.

3.1. Phân Tích Ngôn Từ Trong Truyện Kiều

Phân tích ngôn từ là một trong những phương pháp quan trọng để khám phá tính mơ hồ. Các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ và điển cố sẽ được xem xét để làm rõ ý nghĩa của văn bản.

3.2. Nghiên Cứu Hình Tượng Nhân Vật

Hình tượng nhân vật trong Truyện Kiều cũng là một yếu tố quan trọng thể hiện tính mơ hồ. Việc phân tích các nhân vật sẽ giúp hiểu rõ hơn về những mâu thuẫn và phức tạp trong tâm lý của họ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Tính Mơ Hồ

Nghiên cứu tính mơ hồ trong Truyện Kiều không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn giảng dạy văn học. Việc khai thác tính mơ hồ sẽ giúp học sinh phát triển khả năng tư duy phản biện và cảm thụ văn học sâu sắc hơn. Điều này cũng góp phần làm phong phú thêm chương trình giảng dạy ngữ văn trong nhà trường.

4.1. Tăng Cường Khả Năng Tư Duy Phản Biện

Việc nghiên cứu tính mơ hồ sẽ giúp học sinh phát triển khả năng tư duy phản biện, từ đó có thể đưa ra những ý kiến và quan điểm riêng về tác phẩm.

4.2. Làm Phong Phú Chương Trình Giảng Dạy

Khai thác tính mơ hồ trong Truyện Kiều sẽ làm phong phú thêm nội dung giảng dạy, giúp học sinh có cái nhìn đa chiều về tác phẩm và văn học nói chung.

V. Kết Luận Về Tính Mơ Hồ Trong Truyện Kiều

Tính mơ hồ trong Truyện Kiều không chỉ là một đặc điểm nghệ thuật mà còn là một phương tiện để thể hiện những giá trị sâu sắc của cuộc sống. Nghiên cứu tính mơ hồ giúp hiểu rõ hơn về tư duy nghệ thuật của Nguyễn Du và những đóng góp của ông cho văn học Việt Nam. Tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị và sức hấp dẫn qua thời gian, nhờ vào sự phong phú và đa dạng trong cách hiểu.

5.1. Giá Trị Nghệ Thuật Của Tính Mơ Hồ

Tính mơ hồ là một phẩm chất nghệ thuật quan trọng, giúp Truyện Kiều trở thành một tác phẩm có giá trị vượt thời gian.

5.2. Tương Lai Của Nghiên Cứu Tính Mơ Hồ

Nghiên cứu tính mơ hồ trong văn học sẽ tiếp tục mở ra những hướng đi mới, giúp làm phong phú thêm hiểu biết về văn học và nghệ thuật.

14/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tính mơ hồ trong diễn ngôn lý luận phê bình văn học phương Đông và phương Tây Mơ hồ có nghĩa là sự tồn tại đồng thời của hơn một ý nghĩa hay hơn một cách diễn giải, thường được nhận diện như là một đặc trưng của cấu trúc ngôn từ, hình tượng, của hình thức văn chương, của bản thân các thể loại và của các thực hành bởi người đọc. Hiện tượng mơ hồ trong văn học không phải bây giờ mới được biết tới, mỹ học phương Đông thủa xa xưa đã quan tâm đến tính mơ hồ. Nghiêm Vũ đời Tống ở Trung Quốc đã nói khá rõ về tính mơ hồ của thơ: “Đạo thơ ở chỗ diệu ngộ… chỗ kì diệu của nó trong suốt, lung linh không thế nắm bắt được” [137;424]… Vương Sĩ Trinh đời Thanh đề cao cái “ý tại ngôn ngoại, ý ở ngoài lời của văn thơ” [113;32].

Nhà thi thoại đời Minh, Tạ Trăn cũng chủ trương tả cảnh, thuật sự không nên giống như thực mà phải khác lạ khiến cho người tiếp nhận có cảm giác mơ hồ, bí ẩn (diệu tại hàm hồ). Cảm thấy tính hạn chế và bất lực của ngôn từ “thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”, Lưu Hiệp với công trình nổi tiếng Văn tâm điêu long chủ trương “lập tượng dĩ tận ý”, đề xuất khái niệm ý tượng và nâng lên thành một phạm trù của thi học. Hệ thống “ngôn từ ý tượng”, sau phát triển, xuất hiện thêm một số thuật ngữ “ý cảnh”, “tình cảnh” là ngôn từ sử dụng chủ yếu các thủ pháp ẩn dụ, điển cố, hoán dụ, so sánh, chấm phá, gợi tả… nhằm tạo nên ngôn từ giàu hình ảnh bao hàm nhiều ý nghĩa, lời ít mà ý nhiều. Sau này, nhiều công trình nghiên cứu văn học cổ điển Trung Quốc như: Thi học cổ điển Trung Hoa (Phương Lựu chủ biên), Ngôn ngữ thơ Trung Hoa của Francois Cheng, Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường của Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân cũng nhấn mạnh đến bản chất mơ hồ của văn chương.

Các tác giả đã tập trung nghiên cứu cú pháp, cách dùng chữ và ý tượng của thơ cổ Trung Quốc. Cú pháp thơ Đường do từ và mối quan hệ giữa các từ tạo ra, có thể quy về ba loại: “Khi một danh từ hoặc một cụm danh từ tiếp nối ngay sau một danh từ hoặc một cụm danh từ thì đây là trường hợp không liên tục; khi một câu thơ đồng thời tồn tại hai hoặc nhiều loại cấu trúc ngữ pháp, đây là trường hợp đa nghĩa. … loại thứ ba gọi là đặt sai - là khi thứ tự của từ trong câu bị đảo lộn hoặc đặt xen một cụm từ vào trong một câu thơ vốn được xem là trôi chảy tự nhiên” [28;83]. Cả ba loại cú pháp này đều xuất hiện trong thơ Đường và tạo nên hiệu quả mơ hồ cho lời thơ vì cú pháp không liên tục là do nhân tố ngữ pháp quá ít, lỏng lẻo khiến ý thơ hoặc mờ nhòe hoặc tạo hiệu quả thẩm mỹ mới mẻ, nếu nhân tố ngữ pháp quá nhiều thì sẽ khiến ý thơ phong phú, đa nghĩa, còn đảo vị trí, đặt sai trật tự thì tạo nên sự lạ hóa khiến ý thơ trở nên mới lạ.

6 Xét về các thành phần từ vựng và cú pháp, các công trình đều chỉ ra đặc trưng của ngôn ngữ thơ Trung Hoa thường tỉnh lược đại từ nhân xưng, tỉnh lược giới từ, tỉnh lược bổ ngữ chỉ thời gian, những từ so sánh và động từ, dùng hư từ thay cho động từ nhằm tạo ra một cấu trúc cú pháp linh hoạt, lỏng lẻo đưa đến nhiều cách kết hợp, nhiều cách lý giải giúp cho lời thơ trở nên mơ hồ đa nghĩa. Như vậy, ngay từ xa xưa, tính mơ hồ tuy rằng chưa được gọi tên nhưng nó đã được ý thức rất rõ trong các công trình thi học cổ điển phương Đông. Các học giả đều thống nhất cho rằng tính mơ hồ là một trong những yếu tố tạo nên mỹ cảm của thơ ca. Thơ ca Trung Hoa luôn chủ ý sử dụng hệ thống các thủ pháp tạo nghĩa giúp cho ngôn từ thơ ca giàu hình ảnh, hàm súc, lời ít ý nhiều.

Ở phương Tây, tính mơ hồ có lịch sử thăng trầm hơn. Thời cổ đại, khi nghiên cứu về tu từ học, Aristotle đã trực tiếp nói đến tính mơ hồ khi ông bàn về nhận thức luận. Trong tác phẩm De Phisticis Elenchis, ông đã đề cập mơ hồ do từ đồng âm, mơ hồ do kết hợp từ trong câu. Đó không phải là chủ ý của người nói, người viết mà là một đặc tính tự nhiên của ngôn ngữ.

Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức của ngôn ngữ là gián tiếp và tùy tiện, do đó có thể xảy ra "tai nạn" cú pháp dẫn đến hai hoặc nhiều nghĩa tồn tại trong cùng một tín hiệu. Mơ hồ bị xem là một trở ngại có hại cho giao tiếp, cho sự thật (trong lĩnh vực logic) và công lý (trong lĩnh vực hùng biện pháp y) cần tìm cách khắc phục. Sau này, trong tác phẩm Ars Rhetorica, ông khai thác sâu hơn, thừa nhận việc sử dụng có chủ ý tính mơ hồ của các nhà ngụy biện mang đầy ẩn ý. Nó là một thuật ngữ có thể được ám chỉ cho nhiều điều khác nhau.

Theo quan điểm của Aristotle, sự mơ hồ được xem như một phương tiện để đánh lừa, đó là sự lập lờ, những lời ngụy biện khiến người nghe không phân biệt được thật - giả. Ông đề cao nguyên tắc không mâu thuẫn như là cội nguồn của tư duy khoa học và tư duy logic, trong khi đó mơ hồ chứa đựng các mâu thuẫn ở bên trong cho nên mơ hồ bị xem là “một phạm trù giả tạo”, “một mánh khóe vì lợi ích cá nhân” [7;128] hoặc “chỉ là một sự đùa cợt-để truyền đạt một ý nghĩa sai lệch, hoặc một cách hóm hỉnh để gợi lên một ý nghĩa phụ mà không có ý định cam kết” [7;30]. Trong bối cảnh văn chương thời cổ đại Hi - La, Virgil đã sử dụng từ ambages trong sử thi của Iliad để định nghĩa sự tiên tri có tính chất mơ hồ. Trong Odyssey ngôn ngữ của nhân vật không rõ ràng và dễ hiểu, mà là cố ý tối tăm.

Trong kịch Hy Lạp, cả ba bi kịch Agamemnon, Vua Oedipus và Bacchae đều bắt nguồn từ “sự mơ hồ của sự lừa dối” xuất hiện từ một “tình huống phức tạp” [46;8]. Điều này cho thấy mơ hồ đã được sử dụng có chủ ý trong văn học tuy nhiên vẫn chưa được đề cao. 7 Đến thế kỉ 16, từ ambiguity được thiết lập trong tiếng Anh và trong ngôn ngữ thông tục để “chỉ sự đa bội ý nghĩa, cái này có thể rất nguy hiểm, nan giải, có tính tạo sinh” [171;44]. Với nền văn học đề cao nhận thức lý tính, sáng rõ, đặc biệt là văn học thế kỷ 18- 19, người ta tin rằng văn học cần tránh sự mơ hồ.

Phê bình văn học cổ điển lấy tác giả làm trung tâm, mỗi tác phẩm chỉ thể hiện một tư tưởng mà tác giả gửi gắm. Chính vì lẽ đó, nhiệm vụ của người đọc là phải bằng mọi cách tìm cho ra tư tưởng của tác giả. Tiếp cận tác phẩm văn học từ cuộc sống và tâm hồn của nhà văn được thể hiện rất rõ trong phương pháp tiểu sử của S. Beuven từ cuối thể kỉ 19 hay giải thích học cổ điển chủ trương tiếp nhận văn học là chuyện đi tìm nguyên ý của nhà văn.

Nhưng sang thế kỷ 20, những khám phá của các nhà khoa học phương Tây về: thuyết tương đối (Einstein), thuyết lượng tử (Max Plank); lý thuyết hỗn độn (Henri Poincare), nguyên lý bất định (Werner Heisenberg). ngày càng để lộ ra rằng tri thức của con người dù ở mức tốt nhất cũng không hoàn hảo và đầy giới hạn. Thế giới phong phú vượt xa khả năng nắm bắt của chúng ta, không cho phép con người dự đoán được kết quả một cách chính xác và chắc chắn. Cách nhìn mới về thế giới này chi phối mạnh mẽ, sâu sắc đến sự nhận thức và phản ánh trong văn học.

Văn học thế kỉ 20 chuyển hướng từ nền văn học lấy tác giả làm trung tâm sang đề xuất “cái chết của tác giả” (R. Barthes), nhận ra vai trò quan trọng của văn bản nghệ thuật như là trung tâm tạo nghĩa, không thừa nhận giá trị ý nghĩa của tác phẩm văn học là khép kín, cố định, hoàn thành. Trên nền tảng nhận thức mới, hàng loạt lý thuyết nở rộ, đề cập đến bản chất bất định, mơ hồ của văn học. Đầu thế kỷ 20, các nhà phê bình Mới ở Anh, Mỹ đã phát hiện ra văn bản có tính không xác định và nêu bật hiện tượng này với nhiều cách gọi tên khác nhau như: “tính đa nghĩa”, “nghĩa trượt”, “nghĩa ngoài lời”… Đặc biệt, dựa vào bản chất đối thoại của ý thức, M.

Bakhtin trong cuốn Lý luận và thi pháp tiểu thuyết cho rằng: “tác giả không phải là người quyết định tư tưởng của tác phẩm, cái quyết định là quan hệ đối thoại của các nhân vật, bởi vì theo ông, mỗi nhân vật tồn tại như một nhà tư tưởng. Tác giả chỉ là người tổ chức đối thoại cho các tư tưởng của nhận vật trong tác phẩm mà thôi” [114;127]. Vì vậy, tiểu thuyết mang bản chất mơ hồ ở tính đa thanh, tính đối thoại, tính không hoàn tất của nó. Bakhtin chính là người phát hiện tính đa thanh là nguyên tắc của tiểu thuyết rồi cũng chính ông đã mở rộng nguyên tắc này trở thành tính chất chung của ngôn ngữ văn chương.

Các quan niệm của ông về tính đối thoại, ý thức đa ngữ, tiểu thuyết đa thanh, lời văn hai giọng, tính carnaval hóa của tiểu thuyết là khởi nguồn trực tiếp của tính mơ hồ đồng thời là một hệ thống biểu hiện tính mơ hồ trong thể loại tiểu thuyết được phát triển độc đáo bởi M. Cái mơ hồ là cách mà thời kì Phục hưng dùng để phá vỡ logic độc thoại của thời kì Trung cổ. Bakhtin cho rằng tiểu thuyết của Franxoa Rabơle đã sử dụng các thủ pháp mơ hồ gợi ra nhiều ý nghĩa khác nhau không chỉ trên bình diện từ ngữ mà còn trên bình diện diễn ngôn của các thể loại. 8 Nếu như trước đây mơ hồ bị xem là một khiếm khuyết cần được khắc phục trong văn chương thì đến giai đoạn này, “Phê bình Mới đã biến sự mơ hồ thành một đức tính tốt, gần tương đương với giàu có hoặc dí dỏm”[150;6].

Richards lập luận rằng những gì cần thiết của ngôn ngữ khoa học (ví dụ: sự sáng suốt) không nhất thiết phải có trong thơ. Và học trò của ông, W. Empson đã đề xuất thuật ngữ “tính mơ hồ” (ambiguity) vào năm 1930.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ