Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và hành vi quản trị lợi nhuận đã và đang được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam là không nhiều, chủ yếu do các nhà nghiên cứu nước ngoài thực hiện và chỉ ở một mảng nhất định. Theo tìm hiểu của tác giả, đến thời điểm hiện tại, chưa có một nghiên cứu trong nước chính thức nào về chủ đề này, mà chi được đề cập trong các nghiên cứu về tính minh bạch trong CBTT trên BCTC, quản trị lợi nhuận và các vấn đề có liên quan. Nghiên cứu của Peasnell & các cộng sự (2000) sử dụng mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) [33] - Modified Jones.
Nghiên cứu với một mẫu gồm 1271 quan sát các công ty Anh giai đoạn 1993 - 1995. Nghiên cứu cho thấy sự gia tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài làm giảm quản trị lợi nhuận và sự hiện diện của một Ủy ban kiểm toán sẽ hỗ trợ vai trò giám sát của HĐQT. Nghiên cứu cũng tìm thấy các công ty có lưu chuyên tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh càng tăng thì càng, làm giảm quản trị lợi nhuận [53] R. Smith (2003), véi bai bao “Transparency, Financial Accounting Information, and Corporate Governance” (Economic Policy Review), nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin từ BCTC đã được kiểm toán, và vấn đề quản trị công ty.
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của DN [56] Bên cạnh đó, nhóm tác giả Yu-Chih Lin và các cộng sự (2007) trong nghiên cứu “The relationship berween information transparency and the informativeness of accounting earnings” đã dựa trên chỉ số “hệ thông xếp hạng về sự minh bạch và CBTT ITDRS” (đây là chỉ số đánh giá xếp hạng về sự minh bạch và CBTT của các CTNY được xây dựng ở Đài Loan) để xem xét mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và thu nhập kế toán. Nghiên cứu của nhóm tác giả sử dụng cơ sở dữ liệu của các CTNY trên TTCK (TTCK) Đài Loan trong năm tài chính 2003 và 2004. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy rằng, mức độ minh bạch thông tin được đo bằng chỉ số ITDRS làm giảm sút thông tin về thu nhập kế toán. Tuy nhiên, nếu mức độ minh bạch thông tin được đo bằng tỷ số các khoản đầu tư cổ phiếu dài hạn thì thông tin thu nhập kế toán sẽ gia tăng ở các công ty có mức độ minh bạch cao.
Kết quả cũng cho thấy, theo nhìn nhận của nhà đầu tư, số liệu của kế toán hữu ích và có giá trị hơn so với kết quả xếp hạng của chỉ số ITDRS. Nhóm tác giả cũng cho rằng sử dụng chỉ số ITDRS không phải là cách tốt nhất để đánh gid minh bach TTTC [65], Nghiên cứu của các tác giả A. Sadka (2004) đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nghiên cứu này chỉ ra rằng các quốc gia có mức độ minh bạch thông, tin kém thì đòng chảy FDI cũng suy giảm [24].
Nghiên cứu của Niu (2006) về quản trị DN và chất lượng của lợi nhuận kế toán. Mẫu dữ liệu nghiên cứu là công ty ở Canada trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2004. Thông qua phương pháp hồi quy tuyến tính, tác giả đã chứng minh được: chất lượng quản trị toàn diện (bao gồm thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu ban quản lý, quyền cỗ đông) thì có mối tương quan ngược chiều đến mức độ của dồn tích bất thường và ảnh hưởng thuận chiều với lợi nhuận giữ lại. Ngoài ra độ lớn của khoản dồn tích bắt thường có mối quan hệ ngược chiều với mức đội ập của thành viên HĐQT [51] Nghiên cứu của A.
Ali (2008) về HĐQT, BKS, văn hóa và quản trị lợi nhuận, bằng chứng ở Malaysia. Thời gian nghiên cứu từ năm 2002 đến năm 2003 của 97 công ty niêm yết trên TTCK của Bursa ở Malaysia. Thông qua phương pháp hồi quy thống kê, Abdul Rahman và Mohamed Ali đã nghiên cứu được: quản trị lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với quy mô HĐQT. Có mối quan hệ đáng kể giữ cơ cấu quản trị DN (tính độc lập của hội động quản trị và ban kiểm soát) và quản trị lợi nhuận II] Tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa 2007 trong bài viết “Minh bạch thông tin trên TTCK Việt Nam”, dang trén tap chi phat trién kinh té (Sé 1, trang 14-19), đã sử dụng lý thuyết thị trường hiệu quả đề phân tích và khảo sát để đánh giá tính hiệu quả thông tin của TTCK Việt Nam.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra giải pháp áp dụng việc xây dựng và phát triển một hệ thống CBTT số hóa để giảm bớt hiện tượng bắt cân xứng thông tỉn trên TTCK Việt Nam [7] Nghiên cứu “Minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư trong TTCK Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Dan (2012) đã kiểm tra nhận thức của nhà đầu tư trên sàn HOSE về các thành phần biến số minh bach TTTC, nhân khẩu nhà đầu tư và kinh nghiệm nhà đầu tư nhằm khám phá mối quan hệ giữa sự minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư. Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc đưa ra cách thức nghiên cứu mà chưa giải quyết được mục tiêu đề ra ban đầu [4] Qua việc tổng quát hóa các kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về minh bạch và quản trị lợi nhuận cho thấy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC và mức độ quản trị lợi nhuận. Các nhân tố đó được xem xét ở nhiều góc độ từ vĩ mô như hệ thống, kinh tế, chính trị, văn hóa đến vi mô như các đặc điểm tài chính hay đặc điểm quản trị công ty. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến tính minh bạch thông tin và quản trị lợi nhuận của các nghiên cứu trong nước còn đơn lẻ, tính hệ thống chưa cao, da phần tập trung vào nghiên cứu riêng tính minh bạch hoặc quản trị lợi nhuận.
Trong nghiên cứu này, luận văn tập trung xem xét mối quan hệ giữa mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu kiểm định để tổng quan các kết quả nghiên cứu trước trong và ngoài nước. Luận văn tiến hành lựa chọn Nguyên tắc quản trị của OECD làm nền tảng của thước đo về minh bach trong CBTT trên BCTC để đánh giá mức độ minh bạch TTTC của các CTNY dưới góc độ cảm nhận của nhà đầu tư và mô hình Modified Jones để đo lường mức độ quản trị lợi nhuận. Luận văn cũng sử dụng phương pháp kiểm định tham số và phi tham số đề kiểm định mối quan hệ giữa 2 nhân tố trên. Đề tài nghiên cứu về nhóm ngành cụ thể đề các cơ quan nhà nước quản lý nhà nước có các quy định chặt chẽ, chính sách, những yêu cầu phủ hợp, phát huy vai trò của nhà nước và thúc đây thị trường chứng khoán ngày càng phát triển hơn.
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, luận văn sẽ điều chỉnh và vận dung cho phù hợp với những đặc điểm cia TTCK Viét Nam. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC: và quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam. Từ đó, luận văn đề ra các giải pháp tăng cường tính minh bạch TTTC và hạn chế quản trị lợi nhuận của các CTNY, góp phần tạo nên một TTCK hoạt động hiệu quả và bền vững. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE MOI QUAN HE GIU'A TINH MINH BACH TRONG CBTT TREN BCTC VA QUAN TRI LOT NHUAN CUA CAC CONG TY NIEM YET TREN TTCK VIET NAM 1.
NHUNG VAN DE CO BAN VE TINH MINH BACH TRONG CBTT TREN BCTC 1. Khái niệm về CBTT Theo Owusu-Ansah (1998), CBTT là quá trình cung cấp các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, vị thế và triển vọng phát triển của đơn vị, đặc biệt là các khoản mục được xác định bằng tiền cho các bên có quan tâm và có lợi ích liên quan đến đơn vị [52] Theo quan điểm của Bộ Tài chính, CBTT được hiểu là quy trình các tô chức tham gia TTCK công bố một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời những thông tin về hoạt động của thị trường, các thông tin có thể ảnh hưởng tới giá chứng khoán của nhà đầu tư nhằm đảm bảo các cô đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời. Khái niệm về thông tin trên BCTC và CBTT trên BCTC Thông tin trên BCTC là thông tin có được thông qua BCTC (như thông tin về doanh thu, lợi nhuận, các khoản phải thu, phải trả.) do DN cung cấp và chủ yếu thu thập từ bộ phận kế toán thông qua các BCTC gồm: Bảng cân đối kế toán, BCKQHĐKD, BCLCTT và thuyết minh trên BCTC. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vi thông tin trên BCTC là kết quả của quá trình tạo lập và công bố trên BCTC, sản phẩm của công tác kế toán, do.
vậy hai cụm từ “thông tin trên BCTC” và “thông tin kế toán” là tương đồng. 10 CBTT kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các BCTC của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên) e. Khái niệm về mình bạch trong CBTT trên BCTC Sự minh bạch được dé cập đến rất nhiều trong các lĩnh vực như thị trường tài chính, quản trị công ty,. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến tính minh bạch trong CBTT trên BCTC của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Các tổ chức nghề nghiệp cũng như các nghiên cứu trước đây đưa ra rất nhiều quan điểm về minh bạch, có thể nêu một vài khái niệm như sau: Theo B.