Đặt vấn đề Việc làm luôn là một trong những vấn đề được người lao động quan tâm hàng đầu. Khi có việc làm ổn định, họ sẽ có nguồn thu nhập đảm bảo nuôi sống được chính bản thân và gia đình. Theo số liệu của (Tổng Cục Thống Kê, 2019) dù năm 2018 cả nước đã tạo việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động nhưng vẫn còn khoảng 1 triệu người đang thất nghiệp. Điều này đặt ra vấn đề lớn đối với giai cấp công nhân, bởi vì đội ngũ giai cấp công nhân là lực lượng chính tạo ra sản phẩm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Hiện nay, tổng số lao động làm công hưởng lương trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta có khoảng 24,5 triệu người, trong đó công nhân, lao động trong các doanh nghiệp chiếm khoảng 60%, chiếm tỷ lệ khoảng 14% số dân và 27% lực lượng lao động xã hội (Minh Đức, 2021). Đặc biệt là đối với những công nhân nữ, khi họ là nhóm yếu thế trong xã hội và chịu nhiều thiệt thòi thì vấn đề tìm kiếm việc làm của họ sẽ khó khăn hơn. Theo số liệu thống kê, lực lượng lao động nữ ở nước ta chiếm tỷ lệ khá cao tính đến tháng 12/2016 cả nước có 325 KCN được thành lập lao động nữ (chiếm 63%), một số ngành như da giày, dệt may, chế biến thủy sản có doanh nghiệp tỉ lệ nữ chiếm tới 80% đến 90% (Tổng Cục Thống Kê, 2016). Mặc dù chiếm tỷ lệ cao nhưng công nhân nữ chịu nhiều thiệt thòi.
Những công việc lao động nữ đảm nhiệm thường đòi hỏi nhiều thời gian, công việc lặp đi lặp lại một cách máy móc, buồn tẻ, thời gian tăng ca, tăng giờ nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Thu nhập bình quân hàng tháng của phụ nữ thấp hơn nam giới ở tất cả các khu vực kinh tế - nhà nước, ngoài nhà nước và đầu tư nước ngoài. Ngay cả trong các ngành nghề chủ yếu tuyển dụng phụ nữ như y tế, công việc xã hội và bán hàng, phụ nữ vẫn chịu mức lương thấp hơn các đồng nghiệp nam. Phụ nữ thường chỉ làm những công việc thông thường trong khi các vị trí quản lý thường do nam giới đảm trách 1 (Báo Cáo Điều Tra Lao Động, 2012).
Đặc biệt, đối với những nữ công nhân di cư từ nơi khác đến, họ thường gặp thêm nhiều khó khăn hơn. Vì họ đến từ một địa phương khác và cần thời gian để thích nghi với môi trường mới. Lao động nữ di cư có thời gian làm việc tại doanh nghiệp thấp hơn so với lao động địa phương nên số năm kinh nghiệm cũng thấp hơn và khó có được công việc ổn định hơn so với các đối tượng khác. Tiền lương thấp nhưng mức chi tiêu của lao động di cư luôn ở mức cao hơn so với chi tiêu của lao động địa phương.
Họ phải chi tiền khá nhiều tiền cho các nhu cầu thuê nhà ở, đi lại, chăm sóc y tế và ma chay hiếu hỷ, sinh nhật…và không ít người phải tiết kiệm tiền gửi về quê hỗ trợ gia đình (Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, 2018) Ngoài việc thường xuyên phải làm tăng ca thì đời sống vật chất của những nữ công nhân di cư cũng gặp nhiều vấn đề. Đặc biệt là vấn đề nhà ở đối với công nhân di cư. Hầu hết, công nhân di cư đều phải thuê nhà để ở. Thông thường, các khu nhà trọ của công nhân không đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu như diện tích chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu nước sạch.
Kết quả khảo sát cho thấy số công nhân ở chung phòng 2 người chiếm 11,8%, 3 người chiếm 4,9%, 4 người chiếm 3,5%, trên 5 người chiếm 4,1%. Về diện tích phòng trọ có 17,2% phòng trọ có diện tích dưới 10m2 , trên 10m2 chiếm 35% (Nguyễn Thụy Diễm Hương, 2013). Đa số những công nhân nữ di cư đều phải ở các khu nhà trọ với giá thành cao, nhưng điều kiện vật chất không đầy đủ. Có đến 90% công nhân, người lao động còn lại vẫn phải thuê nhà ở trong các khu dân cư với diện tích chật hẹp, cơ sở vật chất thiếu, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường chưa đảm bảo, đặc biệt là nhà trẻ, trường mầm non còn ít, chưa thực sự giúp được các nữ công nhân yên tâm lao động (Báo Phụ Nữ Việt Nam, 2018) Khu công nghiệp Bảo Minh nằm trên địa bàn xã Liên Minh và Liên Bảo; được xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 2012.
Khu công nghiệp có khá nhiều các ngành nghề đa dạng như dệt, may, lắp ráp thiệt bị điện tử,… với sự đa dạng về ngành nghề, khu công nghiệp đã thu hút được lượng lớn lao động địa phương 2 và các tỉnh lân cận. Đặc biệt, đây đều là những ngành nghề phù hợp với nữ giới nên lượng công nhân nữ di cư từ nơi khác về đây khá lớn. Việc các nữ công nhân di cư từ các địa phương khác đến và sinh sống tại đây sẽ là vấn đề mà các cấp và ban quản lý khu công nghiệp quan tâm vì nó ảnh hưởng tới đời sống người dân và sự phát triển của địa phương, cũng như KCN Bảo Minh. Với số lượng lớn lao động nữ di cư từ nơi khác đến thì tình hình việc làm của họ sẽ như thế nào? Đời sống của những nữ công nhân di cư sẽ ra sao? Để làm rõ những câu hỏi trên, em đã tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư” (Nghiên cứu trường hợp tại Khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) 1.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư 1. Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu đặc điểm của nữ công nhân di cư trong mẫu điều tra tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Tìm hiểu thực trạng việc làm của nữ công nhân di cư tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Tìm hiểu đời sống vật chất của nữ công nhân di cư tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư 1. Khách thể nghiên cứu Công nhân nữ di cư đến làm việc tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định 3 1.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về việc làm và đời sống vật chất là chủ đề có nhiều khía cạnh khác nhau như chất lượng việc làm, ảnh hưởng của việc làm đến người lao động và đời sống vật chất, đời sống tinh thần của người lao động. Trong phạm vi nội dung đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư. Nội dung tập trung tìm hiểu đặc điểm, thực trạng việc làm, đời sống vật chất của nữ công nhân di cư và đang ở trọ tại địa phương. - Phạm vi không gian: khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định - Phạm vi thời gian: + Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu từ tháng 1 – 2022 đến tháng 6 – 2022 + Trong khuân khổ đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm cũng như đời sống vật chất của các nữ công nhân đã và chưa kết hôn di cư đến địa bàn nghiên cứu.
4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2. Thuyết lựa chọn duy lý Thuyết lựa chọn duy lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỉ 18,19. Thuyết lựa chọn hợp lý dựa trên tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách suy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu.
Theo Marx, mục đích tự giác của con người như là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất, phương pháp của hành động ý chí của con người (Lê Ngọc Hùng, 2008) Thuật ngữ “ lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sửa dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số các điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực. Với cách hiểu như vậy, sự lựa chọn của các cá nhân lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì nhấn mạnh yếu tố lợi ích vật chất (như lãi, lợi nhuận, thu nhập), nhưng sau này, các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần. Định đề cơ bản của lý thuyết duy lý được Homans diễn đạt theo kiểu toán học: khi lựa chọn trong số các hàng động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tích (C) của xác suất thành công của hành động đó (P) với giá trị mà phần thưởng của hành động đó (V) là lớn nhất: C= (PxV) = Maximum Các nữ công nhân di cư có xu hướng lựa chọn di cư đến nơi có khu công nghiệp tập trung bio vì ở đó can số lượng lớn lao động và có các điều kiện vật chất tốt, mục đích di cư chủ yếu của họ là vấn đề kind tế. Đa số họ các nữ công nhân sẽ cân nhắc, lựa chọn công việc phù hợp, thu nhập ổn định tốt hơn công việc họ làm trước khi di cư.
Hầu hết, các công nhân là nữ di cư nên họ muốn tìm những nơi ở gần công ty, đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại. 5 Tóm lại, lao động nữ di cư muốn thay đổi môi trường, công việc và cải thiện về đời sống vật chất nên họ thường lựa chọn nơi có công việc tốt, phù hợp và điều kiện sống tốt góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của họ và gia đình. Thuyết cấu trúc chức năng Theo thuyết chức năng chỉ ra một tập hợp và các nguyên tắc áp dụng với vai trò giới trong gia đình. Môt đại biểu chính của thuyết này là Talcott Parsons (1902-1979) là người trình bày rõ ràng nhất về quan điểm cơ cấu chức năng trong vấn đề giới.
Ông cho rằng, trong gia đình, người chồng có vai trò công cụ, là người đi làm kiếm sống, tạo ra thu nhập.