Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh huyện vụ bản tỉnh nam định

Bài viết phân tích thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

1. PHẦN 1: GIỚI THIỆU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.1.1. Mục tiêu chung

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.2.1. Đối tượng nghiên cứu

1.2.2. Khách thể nghiên cứu

1.2.3. Phạm vi nghiên cứu

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu

2.1.1. Thuyết lựa chọn duy lý

2.1.2. Thuyết cấu trúc chức năng

2.2. Các nghiên cứu liên quan

2.2.1. Thực trạng việc làm của nữ công nhân di cư

2.2.2. Đời sống vật chất của nữ công nhân di cư

2.2.3. Các khái niệm liên quan

2.2.3.1. Khái niệm việc làm
2.2.3.2. Khái niệm đời sống vật chất
2.2.3.3. Khái niệm công nhân

3. PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Chọn điểm nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Thu thập thông tin thứ cấp

3.4. Thu thập thông tin sơ cấp

3.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

3.6. Khung phân tích

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm, thông tin của các nữ công nhân di cư

4.1.1. Trình độ học vấn của các nữ công nhân trong mẫu điều tra

4.1.2. Nơi xuất cư của các nữ công nhân trong mẫu điều tra

4.1.3. Công việc trước khi di cư của các nữ công nhân

4.1.4. Lý do di cư của các nữ công nhân

4.1.5. Quyết định di cư của các nữ công nhân

4.1.6. Hoàn cảnh kinh tế gia đình tại nơi xuất cư của các nữ công nhân

4.2. Thực trạng việc làm của các nữ công nhân di cư

4.2.1. Bộ phận làm việc của các nữ công nhân trong công ty

4.2.2. Thâm niên, thời gian làm việc và thu nhập của các nữ công nhân

4.2.3. Hợp đồng và loại hợp đồng lao động của nữ công nhân

4.2.4. Đồ bảo hộ lao động của các nữ công nhân

4.2.5. Thưởng và chế độ phúc lợi của các nữ công nhân

4.2.6. Mức độ hài lòng và dự định với công việc hiện tại của các nữ công nhân

4.3. Đời sống vật chất của các nữ công nhân di cư

4.3.1. Người sống cùng nữ công nhân khi di cư

4.3.2. Điều kiện sinh hoạt của các nữ công nhân trong mẫu điều tra

4.3.3. Tiền tiết kiệm của các nữ công nhân di cư

4.3.4. Cách chăm sóc và khám bệnh lúc bị ốm của các nữ công nhân

4.3.5. Tham gia tiêm chủng Vaccine Covid 19 của các nữ công nhân

4.3.6. Chi tiêu trong một tháng của các nữ công nhân di cư

4.3.7. Đánh giá điều kiện sống và đời sống vật chất của các nữ công nhân khi di cư

4.3.8. Mong muốn hiện tại của các nữ công nhân di cư

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình việc làm nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh

Khu công nghiệp Bảo Minh, nằm tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, đã thu hút một lượng lớn nữ công nhân di cư từ nhiều địa phương khác nhau. Tình hình việc làm của họ không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn tác động đến đời sống vật chất và tinh thần. Theo nghiên cứu, nữ công nhân di cư thường tìm kiếm việc làm trong các ngành nghề như dệt may, lắp ráp thiết bị điện tử, với mong muốn có thu nhập ổn định hơn. Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thích nghi với môi trường làm việc mới.

1.1. Đặc điểm của nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh

Nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh chủ yếu là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên. Họ di cư với mong muốn tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơn và cải thiện đời sống vật chất. Đặc điểm này cho thấy sự quyết tâm và nỗ lực của họ trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống.

1.2. Tình hình việc làm của nữ công nhân di cư

Phần lớn nữ công nhân di cư làm việc trong lĩnh vực may mặc, với nhiều người được hưởng các chính sách lao động đầy đủ. Tuy nhiên, họ vẫn phải đối mặt với áp lực công việc và thời gian làm việc kéo dài, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống cá nhân.

II. Thách thức trong đời sống của nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh

Đời sống của nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về điều kiện sinh hoạt và an sinh xã hội. Hầu hết họ phải thuê nhà trọ với điều kiện sống không đảm bảo, ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần. Ngoài ra, việc thiếu các dịch vụ hỗ trợ như nhà trẻ, trường học cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Điều kiện sống của nữ công nhân di cư

Nữ công nhân di cư thường sống trong các khu nhà trọ chật chội, thiếu ánh sáng và nước sạch. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tạo ra áp lực tâm lý lớn cho họ trong cuộc sống hàng ngày.

2.2. Vấn đề an sinh xã hội cho nữ công nhân di cư

Nhiều nữ công nhân di cư không được hưởng đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội, dẫn đến rủi ro trong trường hợp ốm đau hoặc tai nạn lao động. Chính sách hỗ trợ cho họ còn hạn chế, khiến họ gặp khó khăn trong việc đảm bảo cuộc sống ổn định.

III. Giải pháp cải thiện đời sống cho nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh

Để cải thiện đời sống cho nữ công nhân di cư, cần có các giải pháp đồng bộ từ chính quyền và doanh nghiệp. Việc nâng cao điều kiện sống, cải thiện chính sách lao động và hỗ trợ an sinh xã hội là rất cần thiết.

3.1. Cải thiện điều kiện sống cho nữ công nhân di cư

Cần xây dựng các khu nhà trọ đảm bảo tiêu chuẩn sống tối thiểu, với đầy đủ tiện nghi như nước sạch, điện, và không gian sinh hoạt thoải mái. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho nữ công nhân di cư.

3.2. Nâng cao chính sách lao động và an sinh xã hội

Cần có các chính sách hỗ trợ lao động nữ di cư, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chương trình đào tạo nghề. Điều này sẽ giúp họ có cơ hội phát triển nghề nghiệp và cải thiện thu nhập.

IV. Kết quả nghiên cứu về đời sống vật chất của nữ công nhân di cư

Nghiên cứu cho thấy, mặc dù nữ công nhân di cư có thu nhập ổn định hơn so với trước khi di cư, nhưng đời sống vật chất của họ vẫn còn nhiều hạn chế. Họ thường phải chi tiêu cho nhiều khoản như thuê nhà, đi lại và chăm sóc sức khỏe.

4.1. Mức thu nhập của nữ công nhân di cư

Mức thu nhập trung bình của nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh thường thấp hơn so với mức sống tối thiểu. Điều này khiến họ phải tiết kiệm và chi tiêu hợp lý để đảm bảo cuộc sống hàng ngày.

4.2. Đánh giá về đời sống vật chất của nữ công nhân di cư

Mặc dù có những khó khăn trong đời sống vật chất, nhiều nữ công nhân di cư vẫn cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại. Họ có sự gắn bó với công việc và mong muốn cải thiện điều kiện sống trong tương lai.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh

Tình hình việc làm và đời sống của nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh đang có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn cần nhiều nỗ lực để cải thiện. Các chính sách hỗ trợ và giải pháp thực tiễn sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ trong tương lai.

5.1. Tương lai của nữ công nhân di cư tại KCN Bảo Minh

Với sự phát triển của KCN Bảo Minh, cơ hội việc làm cho nữ công nhân di cư sẽ ngày càng tăng. Tuy nhiên, cần có sự quan tâm hơn nữa từ các cấp chính quyền và doanh nghiệp để đảm bảo quyền lợi cho họ.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ cho nữ công nhân di cư

Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cụ thể cho nữ công nhân di cư, bao gồm đào tạo nghề, hỗ trợ nhà ở và an sinh xã hội. Điều này sẽ giúp họ có cơ hội phát triển bền vững trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/07/2025
Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp bảo minh huyện vụ bản tỉnh nam định

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việc làm luôn là một trong những vấn đề được người lao động quan tâm hàng đầu. Khi có việc làm ổn định, họ sẽ có nguồn thu nhập đảm bảo nuôi sống được chính bản thân và gia đình. Theo số liệu của (Tổng Cục Thống Kê, 2019) dù năm 2018 cả nước đã tạo việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động nhưng vẫn còn khoảng 1 triệu người đang thất nghiệp. Điều này đặt ra vấn đề lớn đối với giai cấp công nhân, bởi vì đội ngũ giai cấp công nhân là lực lượng chính tạo ra sản phẩm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Hiện nay, tổng số lao động làm công hưởng lương trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta có khoảng 24,5 triệu người, trong đó công nhân, lao động trong các doanh nghiệp chiếm khoảng 60%, chiếm tỷ lệ khoảng 14% số dân và 27% lực lượng lao động xã hội (Minh Đức, 2021). Đặc biệt là đối với những công nhân nữ, khi họ là nhóm yếu thế trong xã hội và chịu nhiều thiệt thòi thì vấn đề tìm kiếm việc làm của họ sẽ khó khăn hơn. Theo số liệu thống kê, lực lượng lao động nữ ở nước ta chiếm tỷ lệ khá cao tính đến tháng 12/2016 cả nước có 325 KCN được thành lập lao động nữ (chiếm 63%), một số ngành như da giày, dệt may, chế biến thủy sản có doanh nghiệp tỉ lệ nữ chiếm tới 80% đến 90% (Tổng Cục Thống Kê, 2016). Mặc dù chiếm tỷ lệ cao nhưng công nhân nữ chịu nhiều thiệt thòi.

Những công việc lao động nữ đảm nhiệm thường đòi hỏi nhiều thời gian, công việc lặp đi lặp lại một cách máy móc, buồn tẻ, thời gian tăng ca, tăng giờ nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Thu nhập bình quân hàng tháng của phụ nữ thấp hơn nam giới ở tất cả các khu vực kinh tế - nhà nước, ngoài nhà nước và đầu tư nước ngoài. Ngay cả trong các ngành nghề chủ yếu tuyển dụng phụ nữ như y tế, công việc xã hội và bán hàng, phụ nữ vẫn chịu mức lương thấp hơn các đồng nghiệp nam. Phụ nữ thường chỉ làm những công việc thông thường trong khi các vị trí quản lý thường do nam giới đảm trách 1 (Báo Cáo Điều Tra Lao Động, 2012).

Đặc biệt, đối với những nữ công nhân di cư từ nơi khác đến, họ thường gặp thêm nhiều khó khăn hơn. Vì họ đến từ một địa phương khác và cần thời gian để thích nghi với môi trường mới. Lao động nữ di cư có thời gian làm việc tại doanh nghiệp thấp hơn so với lao động địa phương nên số năm kinh nghiệm cũng thấp hơn và khó có được công việc ổn định hơn so với các đối tượng khác. Tiền lương thấp nhưng mức chi tiêu của lao động di cư luôn ở mức cao hơn so với chi tiêu của lao động địa phương.

Họ phải chi tiền khá nhiều tiền cho các nhu cầu thuê nhà ở, đi lại, chăm sóc y tế và ma chay hiếu hỷ, sinh nhật…và không ít người phải tiết kiệm tiền gửi về quê hỗ trợ gia đình (Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, 2018) Ngoài việc thường xuyên phải làm tăng ca thì đời sống vật chất của những nữ công nhân di cư cũng gặp nhiều vấn đề. Đặc biệt là vấn đề nhà ở đối với công nhân di cư. Hầu hết, công nhân di cư đều phải thuê nhà để ở. Thông thường, các khu nhà trọ của công nhân không đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu như diện tích chật hẹp, thiếu ánh sáng, thiếu nước sạch.

Kết quả khảo sát cho thấy số công nhân ở chung phòng 2 người chiếm 11,8%, 3 người chiếm 4,9%, 4 người chiếm 3,5%, trên 5 người chiếm 4,1%. Về diện tích phòng trọ có 17,2% phòng trọ có diện tích dưới 10m2 , trên 10m2 chiếm 35% (Nguyễn Thụy Diễm Hương, 2013). Đa số những công nhân nữ di cư đều phải ở các khu nhà trọ với giá thành cao, nhưng điều kiện vật chất không đầy đủ. Có đến 90% công nhân, người lao động còn lại vẫn phải thuê nhà ở trong các khu dân cư với diện tích chật hẹp, cơ sở vật chất thiếu, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường chưa đảm bảo, đặc biệt là nhà trẻ, trường mầm non còn ít, chưa thực sự giúp được các nữ công nhân yên tâm lao động (Báo Phụ Nữ Việt Nam, 2018) Khu công nghiệp Bảo Minh nằm trên địa bàn xã Liên Minh và Liên Bảo; được xây dựng và đi vào hoạt động từ năm 2012.

Khu công nghiệp có khá nhiều các ngành nghề đa dạng như dệt, may, lắp ráp thiệt bị điện tử,… với sự đa dạng về ngành nghề, khu công nghiệp đã thu hút được lượng lớn lao động địa phương 2 và các tỉnh lân cận. Đặc biệt, đây đều là những ngành nghề phù hợp với nữ giới nên lượng công nhân nữ di cư từ nơi khác về đây khá lớn. Việc các nữ công nhân di cư từ các địa phương khác đến và sinh sống tại đây sẽ là vấn đề mà các cấp và ban quản lý khu công nghiệp quan tâm vì nó ảnh hưởng tới đời sống người dân và sự phát triển của địa phương, cũng như KCN Bảo Minh. Với số lượng lớn lao động nữ di cư từ nơi khác đến thì tình hình việc làm của họ sẽ như thế nào? Đời sống của những nữ công nhân di cư sẽ ra sao? Để làm rõ những câu hỏi trên, em đã tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư” (Nghiên cứu trường hợp tại Khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) 1.

Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư 1. Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu đặc điểm của nữ công nhân di cư trong mẫu điều tra tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Tìm hiểu thực trạng việc làm của nữ công nhân di cư tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Tìm hiểu đời sống vật chất của nữ công nhân di cư tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư 1. Khách thể nghiên cứu Công nhân nữ di cư đến làm việc tại khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định 3 1.

Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về việc làm và đời sống vật chất là chủ đề có nhiều khía cạnh khác nhau như chất lượng việc làm, ảnh hưởng của việc làm đến người lao động và đời sống vật chất, đời sống tinh thần của người lao động. Trong phạm vi nội dung đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng việc làm và đời sống vật chất của nữ công nhân di cư. Nội dung tập trung tìm hiểu đặc điểm, thực trạng việc làm, đời sống vật chất của nữ công nhân di cư và đang ở trọ tại địa phương. - Phạm vi không gian: khu công nghiệp Bảo Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định - Phạm vi thời gian: + Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu từ tháng 1 – 2022 đến tháng 6 – 2022 + Trong khuân khổ đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm cũng như đời sống vật chất của các nữ công nhân đã và chưa kết hôn di cư đến địa bàn nghiên cứu.

4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2. Thuyết lựa chọn duy lý Thuyết lựa chọn duy lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỉ 18,19. Thuyết lựa chọn hợp lý dựa trên tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách suy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu.

Theo Marx, mục đích tự giác của con người như là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất, phương pháp của hành động ý chí của con người (Lê Ngọc Hùng, 2008) Thuật ngữ “ lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sửa dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số các điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực. Với cách hiểu như vậy, sự lựa chọn của các cá nhân lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì nhấn mạnh yếu tố lợi ích vật chất (như lãi, lợi nhuận, thu nhập), nhưng sau này, các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần. Định đề cơ bản của lý thuyết duy lý được Homans diễn đạt theo kiểu toán học: khi lựa chọn trong số các hàng động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tích (C) của xác suất thành công của hành động đó (P) với giá trị mà phần thưởng của hành động đó (V) là lớn nhất: C= (PxV) = Maximum Các nữ công nhân di cư có xu hướng lựa chọn di cư đến nơi có khu công nghiệp tập trung bio vì ở đó can số lượng lớn lao động và có các điều kiện vật chất tốt, mục đích di cư chủ yếu của họ là vấn đề kind tế. Đa số họ các nữ công nhân sẽ cân nhắc, lựa chọn công việc phù hợp, thu nhập ổn định tốt hơn công việc họ làm trước khi di cư.

Hầu hết, các công nhân là nữ di cư nên họ muốn tìm những nơi ở gần công ty, đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại. 5 Tóm lại, lao động nữ di cư muốn thay đổi môi trường, công việc và cải thiện về đời sống vật chất nên họ thường lựa chọn nơi có công việc tốt, phù hợp và điều kiện sống tốt góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của họ và gia đình. Thuyết cấu trúc chức năng Theo thuyết chức năng chỉ ra một tập hợp và các nguyên tắc áp dụng với vai trò giới trong gia đình. Môt đại biểu chính của thuyết này là Talcott Parsons (1902-1979) là người trình bày rõ ràng nhất về quan điểm cơ cấu chức năng trong vấn đề giới.

Ông cho rằng, trong gia đình, người chồng có vai trò công cụ, là người đi làm kiếm sống, tạo ra thu nhập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ