Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quy trình chăn nuôi lợn công nghiệp, khâu quản lý đàn lợn nái sinh sản giữ vai trò then chốt trong việc duy trì năng suất và cung cấp nguồn con giống thương phẩm chất lượng cao. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các bệnh sản khoa trên đàn lợn nái—đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục, viêm vú và hội chứng đẻ khó—gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản, làm suy giảm chất lượng con giống, kéo dài thời gian phi sản xuất và gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho các cơ sở chăn nuôi. Đàn lợn nái ngoại nhập nội mặc dù có năng suất sinh sản cao nhưng khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm tại Việt Nam còn hạn chế, dễ bị tổn thương trước những bất lợi về dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh chuồng trại và các can thiệp kỹ thuật trong quá trình sinh đẻ.

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất tại trang trại chăn nuôi lợn gia công của Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam (Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam), đề tài khóa luận được xác định với các nội dung trọng tâm:

  1. Nắm được tình hình mắc một số bệnh đường sinh dục trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại.
  2. Xây dựng và đánh giá hiệu quả của các phác đồ điều trị một số bệnh đường sinh dục trên đàn lợn nái nhằm tìm ra phương án tối ưu.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên đàn nái ngoại nuôi nhốt công nghiệp, đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn khi kiểm chứng hiệu lực của các hoạt chất kháng sinh phối hợp cùng thuốc nội tiết và biện pháp can thiệp cơ học, hỗ trợ người chăn nuôi hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra.

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái ngoại sinh sản (giống Landrace, Yorkshire).
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát trên các lứa đẻ từ lứa 1 đến lứa 8.
  • Thời gian thực hiện: Từ ngày 18/11/2015 đến ngày 25/5/2016.
  • Địa điểm tiến hành: Trại lợn thuộc Công ty Cổ phần Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở khoa học về các bệnh sản khoa và dược lực học điều trị

Văn bản khóa luận tổng quan các vấn đề bệnh lý sản khoa chủ yếu trên lợn nái dựa trên các tài liệu chuyên ngành:

  • Bệnh viêm tử cung: Thường xuất hiện trong giai đoạn từ 1 đến 10 ngày sau khi đẻ hoặc sau khi phối giống. Nguyên nhân xuất phát từ các tổn thương niêm mạc do can thiệp đỡ đẻ, thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật, kế phát từ việc sát nhau hoặc do vi khuẩn xâm nhập qua cổ tử cung mở. Căn cứ vào vị trí tổn thương giải phẫu, bệnh được phân loại thành ba thể: viêm nội mạc tử cung (thể nhẹ, gồm dạng cata cấp tính có mủ và dạng có màng giả), viêm cơ tử cung (thể trung bình, dịch viêm màu nâu đỏ mùi tanh thối) và viêm tương mạc tử cung (thể nặng, dịch viêm màu nâu rỉ sắt hoặc lẫn mủ thối khắm, lợn sốt cao, bỏ ăn hoàn toàn). Các vi khuẩn phân lập chủ yếu gồm Streptococcus sp., Staphylococcus sp., Escherichia coli và Klebsiella.
  • Bệnh đẻ khó: Xuất phát từ nguyên nhân do lợn mẹ (cơ rặn yếu, rối loạn hormone relaxin và prostaglandin, khung xương chậu hẹp, nái quá béo) hoặc nguyên nhân do bào thai (chiếm khoảng 3/4 trường hợp do thai quá to, thai quái hình hoặc thai nằm sai tư thế).
  • Bệnh viêm vú: Thường xảy ra sau đẻ từ 4–5 giờ đến 7–10 ngày, nguyên nhân do vi khuẩn (Streptococcus, Staphylococcus, E. coli, Klebsiella) xâm nhập qua tổn thương núm vú khi lợn con cắn, hoặc do ứ đọng sữa khi khẩu phần ăn trước đẻ thừa protein.
  • Đặc tính các loại thuốc sử dụng:
    • Vetrimoxin LA: Huyễn dịch tiêm chứa Amoxycillin (dạng muối trihydrate 150 mg/ml), kháng sinh nhóm β-lactam diệt khuẩn phổ rộng trên cả vi khuẩn Gram (+) và Gram (-), có tác dụng kéo dài đến 48 giờ.
    • Pendistrep LA: Phối hợp giữa Procaine Penicillin G (tác dụng chủ yếu trên vi khuẩn Gram dương, duy trì nồng độ trong máu 24–48 giờ) và Streptomycin sulphate (kháng sinh nhóm aminoglycosid tác dụng trên vi khuẩn Gram âm).
    • Oxytocin: Hormone kích thích co bóp cơ trơn tử cung (liều 10 UI/ml hoặc 1000 UI/100 ml) giúp tống chất dịch viêm, chống sót nhau và kích thích tiết sữa.
    • Analgin C: Phối hợp Methamizole sodium và Vitamin C giúp hạ sốt, giảm đau và tăng sức đề kháng.

Phương pháp nghiên cứu và xử lý số liệu

Nghiên cứu kết hợp hai nhóm phương pháp điều tra và thử nghiệm lâm sàng:

  • Phương pháp điều tra: Điều tra gián tiếp qua việc thu thập số liệu sổ sách theo dõi đàn của trại trong các năm trước; điều tra trực tiếp thông qua kiểm tra lâm sàng hàng ngày tại các ô chuồng, theo dõi biểu hiện dịch tiết đường sinh dục, tình trạng bầu vú và khả năng tiết sữa.
  • Phương pháp thử nghiệm phác đồ điều trị:
    • Điều trị viêm tử cung: Phân chia 50 lợn nái mắc bệnh thành 2 lô. Lô 1 (25 con) sử dụng Phác đồ 1 (Vetrimoxin LA 1 ml/10 kg thể trọng/ngày tiêm bắp kết hợp Oxytocin 6 ml/con/ngày). Lô 2 (25 con) sử dụng Phác đồ 2 (Pendistrep LA 1 ml/10 kg thể trọng/ngày tiêm bắp kết hợp Oxytocin 6 ml/con/ngày). Cả hai phác đồ đều kết hợp thụt rửa tử cung cục bộ bằng dung dịch nước muối sinh lý NaCl 0,9% trong liệu trình 3–5 ngày.
    • Điều trị viêm vú: Theo dõi 9 lợn nái mắc bệnh. Lô 1 (5 con) sử dụng Phác đồ 1 (Vetrimoxin LA kết hợp Oxytocin). Lô 2 (4 con) sử dụng Phác đồ 2 (Pendistrep LA kết hợp Oxytocin). Cả hai lô đều thực hiện chườm đá lạnh 1–2 lần/ngày và vắt cạn sữa viêm 2–3 lần/ngày.
  • Phương pháp tính toán và xử lý số liệu: Tính tỷ lệ mắc bệnh sản khoa (%), tỷ lệ điều trị khỏi (%), thời gian điều trị trung bình (ngày/con) theo các công thức quy chuẩn. Số liệu được thu thập và xử lý bằng phương pháp thống kê sinh vật học theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện (2008) trên phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển chăn nuôi lợn nái sinh sản nhằm đáp ứng nhu cầu con giống hướng nạc chất lượng cao. Khái quát thiệt hại kinh tế do các bệnh sản khoa gây ra đối với đàn nái ngoại nhập nội. Nêu rõ mục đích nghiên cứu gồm 2 mục tiêu cụ thể, xác định ý nghĩa khoa học trong việc hoàn thiện giải pháp kỹ thuật và ý nghĩa thực tiễn trong việc lựa chọn thuốc thú y điều trị bệnh đường sinh dục tại cơ sở.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Điều kiện cơ sở nơi thực tập: Khảo sát chi tiết Trại lợn Bình Minh thuộc Công ty Cổ phần Bình Minh (xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội). Trại có diện tích 10,2 ha (đất xây dựng 2,5 ha; cây ăn quả 2,3 ha; lúa 2,4 ha; ao hồ 3 ha; khu hành chính và sinh hoạt 0,5 ha). Quy mô nuôi 1200 lợn nái, gồm 6 chuồng đẻ (56 ô kích thước 2,4 m x 1,6 m/ô), 2 chuồng nái chửa (560 ô kích thước 2,4 m x 0,65 m/ô), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống (23 đực giống Pietrain và Duroc khai thác tinh) và 9 chuồng lợn thịt. Hệ thống chuồng trại khép kín có giàn mát, quạt hút gió, trần tôn lạnh, hầm biogas xử lý chất thải và nguồn nước cấp từ giếng khoan qua bể lọc.
  • Cơ sở khoa học và tổng quan y văn: Phân tích cơ chế bệnh sinh, nguyên nhân dinh dưỡng, triệu chứng lâm sàng và tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung, đẻ khó và viêm vú; nêu rõ đặc tính dược lý của các loại thuốc Vetrimoxin LA, Pendistrep, Oxytocin và Analgin C; trích dẫn các công trình nghiên cứu trong nước (Phạm Hữu Doanh, Nguyễn Xuân Bình, Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Lê Văn Năm...) và nước ngoài (Christensen, Kemper, Heber, Popkov...) về tỷ lệ mắc bệnh sinh sản, hội chứng MMA (viêm tử cung - viêm vú - mất sữa) và vai trò của vi khuẩn đường ruột trong sữa lợn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái ngoại sinh sản từ lứa đẻ 1 đến lứa đẻ 8 tại Trại lợn Bình Minh từ ngày 18/11/2015 đến ngày 25/5/2016. Trình bày chi tiết hai nội dung nghiên cứu chính; thiết lập sơ đồ khối thử nghiệm điều trị viêm tử cung (50 con) và viêm vú (9 con); mô tả quy trình điều tra trực tiếp, gián tiếp; thiết lập các công thức toán học tính tỷ lệ mắc, tỷ lệ khỏi, thời gian điều trị trung bình và phương pháp thống kê sinh vật học.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương này gồm hai hợp phần:

  • Công tác phục vụ sản xuất:
    • Chăm sóc nuôi dưỡng: Thực hiện quy trình cấp thức ăn cho nái chửa theo tuần chửa (tuần 1–12 dùng cám 566SF mức 1,5–2 kg/ngày; tuần 13–14 dùng cám 566SF mức 2,5–3 kg/ngày; tuần 15 trở đi dùng cám 567SF mức 3,5–4 kg/ngày). Quy định định mức thức ăn chi tiết cho chuồng đẻ từ trước ngày đẻ 4 ngày đến sau đẻ 6 ngày đối với nái hậu bị và nái dạ. Hướng dẫn chăm sóc lợn con từ bấm nanh, cắt rốn, cắt đuôi, tiêm sắt, phòng cầu trùng đến tập ăn cám 550SF từ 3 ngày tuổi và cai sữa lúc 21–26 ngày tuổi.
    • Thụ tinh nhân tạo: Quy trình chuẩn bị tinh dịch (80–100 ml, 1,5–2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng/liều), dẫn tinh 3 lần trong một chu kỳ động dục.
    • Vệ sinh thú y và phòng bệnh: Phun sát trùng Ommicide 2 lần/ngày (320 ml/1000 lít nước), xử lý đan chuồng bằng NaOH 10% và vôi xút; thực hiện lịch tiêm vaccine bắt buộc cho lợn con (Coglapest), lợn hậu bị (PRRS, Pavo, Begonia, Aftopor, Coglapest), nái sinh sản và lợn đực giống; tỷ lệ tiêm vaccine toàn trại đạt 100%.
    • Tham gia đỡ đẻ và điều trị lâm sàng: Trực tiếp đỡ đẻ thành công 270 ca; điều trị thực tế 6 nhóm bệnh xuất hiện tại cơ sở (viêm đường sinh dục, tiêu chảy lợn con, viêm phổi do Mycoplasma, viêm vú, viêm khớp và dịch tiêu chảy cấp PED).
  • Kết quả nghiên cứu chuyên đề: Khảo sát tình hình mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái theo các biến số: giống lợn, lứa đẻ, các tháng theo dõi, dãy chuồng và hình thức đẻ (đẻ tự nhiên so với đẻ có can thiệp); đánh giá so sánh hiệu quả điều trị của Phác đồ 1 và Phác đồ 2; theo dõi thời gian động dục trở lại sau cai sữa và tỷ lệ phối giống thụ thai của đàn lợn sau khi khỏi bệnh.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về tỷ lệ mắc bệnh sản khoa tại trại, khẳng định hiệu lực của các phác đồ điều trị được thử nghiệm và rút ra các khuyến nghị kỹ thuật liên quan đến quy trình hộ lý, kiểm soát dinh dưỡng trước sinh và vệ sinh phòng dịch.

Kết quả và đóng góp

Kết quả điều trị và phục vụ sản xuất thực tế tại trang trại

Trong thời gian 6 tháng thực hiện đề tài tại cơ sở, các ca bệnh lâm sàng được tác giả trực tiếp chẩn đoán và điều trị ghi nhận kết quả như sau:

Tên bệnh lý Số lượng điều trị (con) Số lượng khỏi (con) Tỷ lệ khỏi (%) Thuốc và biện pháp can thiệp chính
Viêm đường sinh dục nái 50 49 98,00 Oxytocin (2 ml/con), Vetrimoxin LA (1 ml/10 kg TT/lần/2 ngày), Vitamin C (1 g/con), thụt rửa nước muối ấm (3 lít/lần/ngày), liệu trình 3–5 ngày
Viêm vú lợn nái 9 9 100,00 Analgin (1 ml/10 kg TT/ngày), Vetrimoxin LA (1 ml/10 kg TT/ngày), tiêm 5 ngày; xoa bóp nước muối ấm 10%, vắt bớt sữa 2–3 lần/ngày
Tiêu chảy ở lợn con 300 280 93,33 Nor-100 (1 ml/con/ngày tiêm bắp cho lợn > 10 ngày tuổi), điều trị liên tục 3 ngày
Viêm phổi lợn con (Mycoplasma) 100 90 90,00 Tylogenta (1 ml/con tiêm bắp ngày/lần), điều trị liên tục 3 ngày
Viêm khớp lợn con 30 25 83,33 Pendistrep LA (1 ml/10 kg TT/lần/2 ngày), điều trị liên tục 3–5 ngày
Dịch tiêu chảy cấp (PED) 1200 780 65,00 Tiêm Nor-100 (1 ml/con), uống điện giải và Nopstrep; làm auto-vaccine gây nhiễm nhân tạo cho nái mang thai < 13 tuần

Bên cạnh công tác điều trị, tác giả đã tham gia trực tiếp đỡ đẻ thành công 270 ca đảm bảo an toàn cho lợn mẹ và lợn con sơ sinh theo đúng tiêu chuẩn giao khoán.

Các chỉ số sản xuất của trang trại

Theo số liệu theo dõi tại Trại lợn Bình Minh trong giai đoạn nghiên cứu:

  • Năng suất sinh sản đàn nái đạt mức bình quân 2,45–2,47 lứa/năm.
  • Số lợn con sơ sinh đạt bình quân 11,23 con/đàn; số con cai sữa đạt 10,7 con/đàn.
  • Thời gian nuôi con theo mẹ kéo dài từ 21 ngày tuổi đến tối đa 26 ngày tuổi trước khi cai sữa.
  • Tỷ lệ tiêm phòng vaccine phòng các bệnh truyền nhiễm trên toàn đàn đạt 100%. Tỷ lệ điều trị khỏi các bệnh thông thường của kỹ thuật viên trang trại đạt từ 80–90%.

Đóng góp kỹ thuật của đề tài

  • Kiểm chứng trên thực địa hiệu quả của các phác đồ phối hợp kháng sinh tác dụng kéo dài (Amoxycillin trihydrate hoặc Penicillin kết hợp Streptomycin) với kích tố co bóp tử cung (Oxytocin) và can thiệp cơ học cục bộ (thụt rửa dung dịch nước muối sinh lý đẳng trương 0,9%, chườm đá lạnh, vắt cạn sữa viêm).
  • Chuẩn hóa các quy trình chăm sóc kỹ thuật tại cơ sở: chi tiết hóa bảng định lượng khẩu phần thức ăn cho nái tại chuồng đẻ theo từng ngày trước và sau khi sinh (giúp hạn chế nguy cơ ứ đọng sữa gây viêm vú), quy trình thụ tinh nhân tạo 3 lần/chu kỳ và lịch sát trùng cơ sở định kỳ hàng tuần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Thời gian theo dõi: Đề tài được thực hiện trong thời gian 6 tháng (từ tháng 11/2015 đến tháng 5/2016), chưa bao quát đủ chu kỳ biến động thời tiết trọn vẹn của cả năm, đặc biệt là giai đoạn cao điểm nắng nóng mùa hè ở miền Bắc.
  • Phạm vi khảo sát: Toàn bộ dữ liệu thu thập được giới hạn trong một cơ sở chăn nuôi gia công duy nhất (Trại lợn Bình Minh), chưa có số liệu đối chứng liên trại hoặc giữa các phương thức chăn nuôi khác nhau.
  • Phương pháp chẩn đoán: Việc phân loại các thể viêm tử cung và viêm vú chủ yếu dựa trên các triệu chứng lâm sàng và kinh nghiệm quan sát mắt thường của kỹ thuật viên, chưa có điều kiện nuôi cấy, phân lập định danh vi khuẩn và thực hiện kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm đối với từng ca bệnh cụ thể.
  • Điều kiện thực địa: Cơ sở vật chất của trang trại được xây dựng từ năm 2008 nên một số hạng mục chuồng trại và vật tư đã cũ, lượng nước thải chăn nuôi lớn gây áp lực nhất định cho hệ thống xử lý môi trường.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi dịch tễ bệnh sản khoa trên đàn nái qua nhiều năm để đánh giá chính xác tác động của các mùa khí hậu khác nhau đến tỷ lệ mắc bệnh.
  • Triển khai lấy mẫu dịch viêm tử cung và mẫu sữa viêm để phân lập vi sinh vật học, xác định tỷ lệ mẫn cảm và mức độ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn (E. coli, Streptococcus, Staphylococcus, Klebsiella) lưu hành tại trang trại.
  • Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nâng cấp hệ thống xử lý chất thải và nước thải chăn nuôi tương ứng với quy mô đàn nái 1200 con.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi Thú y, Bác sĩ Thú y đang thực hiện khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề hoặc đề tài nghiên cứu về bệnh sinh sản trên gia súc.
    • Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư chăn nuôi phụ trách quản lý kỹ thuật tại các trang trại nuôi lợn nái ngoại sinh sản theo mô hình công nghiệp tập trung.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cụ thể:
    • Bảng tiêu chuẩn định mức thức ăn chi tiết cho lợn nái trước và sau khi đẻ (phân định rõ mức ăn theo từng bữa sáng - trưa - chiều cho nái dạ và nái hậu bị).
    • Lịch trình tiêm phòng vaccine và thuốc phòng bệnh cụ thể theo tuần tuổi cho lợn con, lợn hậu bị, lợn nái sinh sản và lợn đực giống.
    • Phác đồ điều trị kết hợp toàn thân và cục bộ cho bệnh viêm tử cung, viêm vú, cùng quy trình kỹ thuật làm auto-vaccine đường ruột trong kiểm soát dịch tiêu chảy cấp (PED) trên đàn lợn.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô cơ sở vật chất và đàn giống của Trại lợn Bình Minh nơi tiến hành đề tài được bố trí như thế nào?

Trang trại có tổng diện tích 10,2 ha, quy mô chăn nuôi 1200 lợn nái ngoại. Cơ sở vật chất gồm 6 chuồng nái đẻ (56 ô/chuồng, diện tích 2,4 m x 1,6 m/ô), 2 chuồng nái chửa (560 ô/chuồng, diện tích 2,4 m x 0,65 m/ô), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng nuôi 23 đực giống (thuộc giống Pietrain và Duroc phục vụ khai thác tinh) và 9 chuồng lợn thịt (nuôi 550 con/chuồng). Chuồng trại khép kín hoàn toàn, trang bị giàn mát ở đầu chuồng, quạt hút gió ở cuối chuồng và trần tôn lạnh chống nóng.

2. Định lượng khẩu phần thức ăn cho lợn nái tại chuồng đẻ được điều chỉnh như thế nào theo từng ngày trước và sau đẻ?

Theo quy trình kỹ thuật tại trại, đối với nái dạ: mức ăn giảm dần từ 3,0 kg/ngày (trước đẻ 4 ngày) xuống 2,5 kg (trước đẻ 3 ngày), 2,0 kg (trước đẻ 2 ngày), 1,5 kg (trước đẻ 1 ngày) và ngày đẻ chỉ cho ăn 1,0 kg chia làm 3 bữa. Sau khi đẻ, mức ăn tăng dần từ 1,0 kg (ngày thứ 1), 2,0 kg (ngày 2), 3,0 kg (ngày 3), 4,0 kg (ngày 4), 5,0 kg (ngày 5) đến 6,0 kg (ngày thứ 6). Đối với nái hậu bị, mức ăn trước đẻ giảm từ 2,2 kg xuống 1,0 kg vào ngày đẻ, sau đó tăng dần lên 6,0 kg ở ngày thứ 6 sau đẻ.

3. Thiết kế thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung và viêm vú trong khóa luận gồm những phác đồ nào?

Đối với bệnh viêm tử cung, đề tài thử nghiệm trên 50 nái: Phác đồ 1 (25 con) dùng Vetrimoxin LA (1 ml/10 kg TT/ngày) + Oxytocin (6 ml/con/ngày); Phác đồ 2 (25 con) dùng Pendistrep LA (1 ml/10 kg TT/ngày) + Oxytocin (6 ml/con/ngày); cả 2 phác đồ đều kết hợp thụt rửa tử cung bằng nước muối sinh lý 0,9% từ 3–5 ngày. Đối với bệnh viêm vú, đề tài thử nghiệm trên 9 nái: Phác đồ 1 (5 con) dùng Vetrimoxin LA + Oxytocin; Phác đồ 2 (4 con) dùng Pendistrep LA + Oxytocin; kết hợp chườm đá lạnh 1–2 lần/ngày và vắt kiệt sữa viêm 2–3 lần/ngày.

4. Kết quả điều trị các ca bệnh thực tế của tác giả trong thời gian thực tập tại trại đạt tỷ lệ khỏi bao nhiêu?

Trong 6 tháng thực tập, tác giả đã điều trị: 50 nái viêm đường sinh dục (khỏi 49 con, đạt 98,00%); 9 nái viêm vú (khỏi 9 con, đạt 100,00%); 300 lợn con tiêu chảy (khỏi 280 con, đạt 93,33%); 100 lợn con viêm phổi do Mycoplasma (khỏi 90 con, đạt 90,00%); 30 lợn con viêm khớp (khỏi 25 con, đạt 83,33%); và 1200 lợn mắc dịch tiêu chảy cấp PED (khỏi 780 con, đạt 65,00%).

5. Lịch tiêm phòng vaccine và phòng bệnh bằng thuốc cho lợn con tại trang trại được thực hiện theo các mốc thời gian nào?

Lợn con sơ sinh được cắt rốn, bấm nanh ngay sau đẻ; lúc 2–3 ngày tuổi được cắt đuôi, bấm số tai, tiêm Fe + B12 (1 ml/con) và cho uống thuốc phòng tiêu chảy; lúc 3–6 ngày tuổi cho uống Totrazil (1 ml/con) phòng bệnh cầu trùng; từ 3 ngày tuổi bắt đầu tập ăn thức ăn hoàn chỉnh 550SF; lúc 7–10 ngày tuổi tiêm phòng vaccine Mycoplasma; lúc 16–18 ngày tuổi tiêm bắp 2 ml vaccine dịch tả lợn Coglapest; và tiến hành cai sữa khi đạt 21–26 ngày tuổi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thanh đã phản ánh có hệ thống tình hình chăn nuôi, công tác thú y và thực trạng mắc bệnh đường sinh dục trên đàn lợn nái ngoại tại Công ty Cổ phần Bình Minh trong thời gian 6 tháng thực địa. Nghiên cứu đã kiểm chứng hiệu quả thực tế của các phác đồ kết hợp giữa kháng sinh tác dụng kéo dài (Vetrimoxin LA, Pendistrep LA) với thuốc kích thích co bóp tử cung (Oxytocin) và biện pháp hộ lý cơ học, đem lại tỷ lệ khỏi bệnh cao trên đàn nái. Toàn bộ các quy trình chăm sóc nái đẻ, định mức thức ăn chuồng đẻ, lịch sát trùng và quy trình tiêm vaccine được tác giả ghi nhận và chuẩn hóa là tài liệu tham khảo kỹ thuật hữu ích cho công tác quản lý dịch bệnh tại các trại lợn nái công nghiệp quy mô lớn.