Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LIÊN KẾT XÃ HỘI CỦA CÔNG NHÂN 1. HƯỚNG NGHIÊN CỨU LIÊN KẾT XÃ HỘI THEO TRỤC NGANG (CẤP LIÊN CÁ NHÂN) Từ những năm 1950 đến 1980, các nhà xã hội học lao động đã nghiên cứu LKXH ngang giữa các cá nhân/nhóm công nhân với tư cách là một hiện tượng thể hiện bản sắc văn hóa [65, tr. Xã hội học Mỹ, khi mô tả LKXH như yếu tố của văn hóa doanh nghiệp đã đề xuất thuật ngữ "corporate culture" (văn hóa công ty) để chỉ sự LKXH chặt chẽ giữa những người làm công ăn lương [65]. Đối với Maryse Tripier [65, tr.
373 - 386], LKXH giữa công nhân/nhóm công nhân được nghiên cứu dưới góc độ cùng nhóm thuộc tính, đồng hương, bạn bè…Tác giả gọi LKXH ấy là "văn hóa công nhân" để đối lập với văn hóa doanh nghiệp tổng thể, tức là sự liên kết của toàn công nhân với doanh nghiệp (liên kết dọc). Nhà xã hội học lao động người Pháp, Segrestin [65, tr.461-477] lại dựa vào sự phân biệt rất cơ bản giữa "cộng đồng tính" (community) và "xã hội tính" của Ferdinand Tönnies để nghiên cứu đặc điểm LKXH giữa các cá nhân/nhóm công nhân. Một lập luận mà tác giả đề xuất rất hữu ích cho nghiên cứu này chính là, khi LKXH của công nhân mang tính cộng đồng cao thì họ sẽ có nhiều cơ hội chia sẻ về mặt tâm lí, tình cảm, nhưng sẽ khó khăn trong việc chuyên nghiệp hóa vì chuyên nghiệp hóa lại dựa vào xã hội tính, tức là nặng về cạnh tranh. Trong cuốn "Kinh tế và xã hội" (Economy and Society) [74] Max Weber cũng đã lập luận rằng, LKXH ngang thường chặt chẽ khi nó dựa trên cơ sở những người lao động thuộc về nhóm thuộc tính, thuộc về một cộng đồng có những chia sẻ về các đặc điểm văn hóa chung.
Những liên kết như vậy thường mang tính xúc cảm, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống đời thường và trong lao động. Về phần mình, Émile Durkheim (1893) trong tác phẩm kinh điển "Bàn về sự phân chia lao động xã hội" (De la division sociale du travail) [72] đã đặt ra một vấn đề căn bản của LKXH trong công nhân: làm thế nào công nhân/nhóm công nhân vừa đoàn kết chặt chẽ lại vừa có quyền tự quyết hơn tại vị trí việc làm của mình? Tác giả đã phân tích LKXH của 17 công nhân qua hai thuật ngữ quan trọng là "đoàn kết máy móc" dẫn đến "đoàn kết hữu cơ" [72, tr. Ở mức độ đoàn kết máy móc, mỗi công nhân với tư cách là một người sản xuất phụ thuộc vào những công nhân khác vì đơn giản họ bị ràng buộc, liên kết bởi một dây chuyền sản xuất chung mang tính chất vật lí cao. Sự LKXH này được tác giả gọi là liên kết theo chức năng ở cấp độ đoàn kết hữu cơ giữa các cá nhân hoặc nhóm công nhân, sự phân chia lao động cho phép từng người lao động chuyên môn hóa rất cao nên mọi công nhân đều có được ý thức phải phụ thuộc vào người khác trong sự độc lập tương đối của mình.
Nếu không, công việc sẽ không được hiệu quả. Từ đó, sự LKXH trở nên mạnh mẽ và chặt chẽ đến nỗi sinh ra một "ý thức tập thể" rằng: tất cả họ đều phải dựa vào nhau để sản xuất vừa độc lập tương đối vừa phụ thuộc lẫn nhau [65, tr. Tuy nhiên, thuật ngữ thứ ba của Émile Durkheim cũng là một phát hiện lớn khi tác giả cho rằng, giữa công nhân/nhóm công nhân có sự liên kết chặt chẽ, nhưng giữa tổng thể GCCN và tổng thể giới chủ thì lại không hề có sự liên kết, thậm chí là thiếu hệ thống điều tiết mà tác giả gọi là "phi kinh tế" hay "phi chuẩn mực". Từ đó, tác giả đề xuất rằng, để có sự liên kết chặt chẽ hay sự hài hòa, điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển, cần phải tạo dựng các "nhóm chuyên nghiệp" ở đó có sự đại diện của giới chủ và đại diện giới công nhân cùng bàn bạc thảo luận các biện pháp giải quyết vấn đề trước sự chứng kiến và làm trọng tài của nhà nước.
Đó chính là một trong những nguồn gốc ra đời của công đoàn đại diện cho công nhân và công đoàn đại diện cho giới chủ. Những lập luận quan trọng của Émile Durkheim có thể gợi ý cho nghiên cứu này như sau: LKXH ngang giữa các cá nhân hoặc nhóm công nhân cũng chưa hội tụ đủ điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, mà cần phải có sự liên kết dọc, tức là giữa công nhân và doanh nghiệp. Trong quan hệ lao động và quan hệ đời thường của công nhân, LKXH giữa họ thể hiện giá trị bình đẳng, sự tương trợ, chia sẻ, giúp đỡ, bảo vệ quyền lợi cho nhau. Tác giả Tôn Thiện Chiến qua kết quả điều tra xã hội học cho thấy công nhân được hỏi trong các doanh nghiệp quốc doanh trả lời rằng: "quan hệ giữa họ với nhau tốt hơn trước (33,1%) và vẫn như cũ (56,9%).
Các chỉ số này ở các xí nghiệp ngoài quốc doanh lần lượt là 93,7% và 48,6% [11, tr. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sự đoàn kết này xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của cuộc sống đời thường và trong lao 18 động của công nhân". Minh chứng rõ hơn cho nhận định này, cuốn sách chuyên khảo "Mức độ đoàn kết xã hội và xung đột xã hội giữa các thành viên trong doanh nghiệp" của tác giả Đỗ Thị Vân Anh đã làm rõ thực trạng hai thái cực đoàn kết xã hội và xung đột xã hội trong các doanh nghiệp hiện nay. Trên cơ sở đó, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng và xu hướng biến đổi đoàn kết và xung đột trong các doanh nghiệp.
Tác giả viết: "Trong quan hệ sản xuất, mối quan hệ giữa họ là bình đẳng. Có thể thấy rõ biểu hiện của nó ở sự tương trợ, giúp đỡ, bảo vệ quyền lợi của đồng nghiệp trong công việc và trong sinh hoạt. Điều đó thể hiện tình đoàn kết cao trong công nhân" [2, tr. * Các dạng LKXH và các dạng xã hội Khi xã hội học cổ điển quan tâm nghiên cứu các hình thức nghiên cứu xã hội thì các nhà nghiên cứu thường xem xét và phân tích các mối quan hệ giữa các dạng xã hội tính và các dạng xã hội.
Karl Marx đã mô tả các khía cạnh khác nhau của sự tha hóa trong tiến trình lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sự đối lập, mâu thuẫn gay gắt giữa hai giai cấp vô sản và tư sản đồng nghĩa với sự thiếu vắng LKXH giữa hai giai cấp này. Từ đó, hành động mà tác giả gợi ý chính là cuộc đấu tranh các giai cấp. Cũng theo định hướng như vậy, Emile Durkheim đã phân biệt các loại LKXH thông qua sự tiến triển từ đoàn kết máy móc sang đoàn kết hữu cơ giữa những người công nhân với nhau.
Đoàn kết máy móc là sự LKXH trong đó các công nhân với tư cách là cá nhân rất giống nhau và đều bị ràng buộc bởi tất cả đều tham gia vào tổng thể đó là quá trình sản xuất công nghiệp. Như vậy, yếu tố tạo ra sự LKXH theo chiều ngang chính là máy móc và dây chuyền sản xuất. LKXH dưới dạng đoàn kết hữu cơ được phát triển là do quá trình chia nhỏ lao động ngày càng tinh vi và tập hợp công nhân ý thức được rằng học là một giai cấp bị trị. Từ đó, họ liên kết lại với nhau như cơ chế "môi hở răng lạnh", hay "máu chảy ruột mềm".
Trong phân tích của mình, tác giả cho rằng đoàn kết cộng đồng đang bị đảo lộn và bị thay thế bởi chủ nghĩa cá nhân gắn với công nghiệp [65, tr. Về phần mình, Tonnies (1855-1936) đối lập LKXH dưới dạng liên kết cộng đồng với LKXH dưới dạng liên kết hợp đồng. Hình thức liên kết thứ nhất thường ăn sâu bám rễ như trong tự nhiên, như quan hệ máu mủ ruột rà, tình làng nghĩa xóm, tình bạn, tình đồng hương… Loại LKXH này mang tính duy cảm và thường xuất phát từ sự chia sẻ những điều 19 kiện khó khăn như nhau hoặc những đặc tính văn hóa chung. Hình thức LKXH thứ hai bị chi phối bởi mối quan hệ hợp đồng, tức là mối quan hệ chuyên nghiệp, duy lý.
Trong nghiên cứu này, ngoài việc đo lường và đánh giá mức độ LKXH theo chiều ngang giữa các cá nhân hoặc nhóm công nhân, tác giả luận án còn xem xét và phân tích LKXH của công nhân theo chiều dọc, tức là sự gắn bó của công nhân trong KCN Thăng Long với doanh nghiệp của họ. Từ đó, nghiên cứu có nhiệm vụ đánh giá xem liệu hình thức LKXH theo chiều ngang của công nhân có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến mối liên kết theo chiều dọc. Và lại, sự phối hợp giữa hai loại LKXH này của công nhân trong KCN ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của doanh nghiệp. * Dạng nhân cách và dạng xã hội David Riesman (1909-2002) cho rằng có ba dạng nhân cách gắn với ba dạng LKXH và ba dạng xã hội (xã hội truyền thống gắn với nhân cách của con người truyền thống; xã hội công ngiệp gắn với nhân cách của con người công nghiệp; xã hội tiêu thụ gắn với nhân cách của người tiêu dùng) [65, tr.
Vận dụng sự phân chia này vào luận án, tác giả luận án nghiên cứu nhân cách công nghiệp của những công nhân trong LKXH của họ. Hay nói cách khác, liệu LKXH của công nhân có giúp họ trở nên chuyên nghiệp hơn hay không hay chỉ giải quyết được khía cạnh tâm lý, tình cảm? Tác giả này cho rằng, việc nghiên cứu LKXH ở cấp độ vĩ mô tức là sự gắn bó, tin tưởng của toàn thể cá nhân trong xã hội với hệ thống giá trị và niềm tin của xã hội đó thường mang tính giản đơn [65, tr. Hơn nữa, mặc dù thừa nhận tầm quan trọng của nó nhưng tác giả này vẫn phê phán tiếp cận nghiên cứu xã hội ở cấp độ vĩ mô, cụ thể như sau: sự LKXH được nghiên cứu một cách tổng thể chẳng khác nào nhà nghiên cứu đang xem xét xã hội như là những mảnh ghép các gia đình, các giai cấp, các thiết chế, các hiệp hội…. Tác giả Charles Cooley (1864-1929) cũng chia sẻ quan điểm này: "các nhóm cơ sở (tức là các nhóm công nhân) được đặc trưng bởi sự phối hợp, hợp tác và chia sẻ giữa người này với người khác" [65, tr.
LKXH ở đây được nghiên cứu thông qua các quan hệ liên cá nhân và liên nhóm. Hay nói cách khác, các tác giả quan tâm nghiên cứu LKXH ở cấp độ vi mô và trung mô bởi vì một xã hội hàm chứa rất nhiều nhóm xã hội trung gian.