Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tiếp cận chủ đề đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế của các quốc gia đang phát triển tại khu vực châu Á. Sau Hội nghị Trung ương III khóa XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đã khởi xướng công cuộc cải cách mở cửa, chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Đến năm 2011, Trung Quốc chính thức vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trong tiến trình này, nguồn vốn FDI đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc; từ năm 1992, quốc gia này liên tục dẫn đầu khối các nước đang phát triển về thu hút FDI, năm 2002 vượt Hoa Kỳ với 52,7 tỷ USD và năm 2010 đạt 105,735 tỷ USD vốn thực hiện. Về phía Việt Nam, công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đã mở ra giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về bối cảnh lịch sử, thể chế chính trị và lộ trình mở cửa kinh tế. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng, phân tích chính sách thành công cũng như những vấn đề tồn tại trong thu hút FDI tại Trung Quốc mang tính cấp thiết nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định và đánh số cụ thể gồm hai nhiệm vụ:

  • Thứ nhất, khái quát về thị trường Trung Quốc, thực tế sử dụng FDI cũng như tác động của nó tới nền kinh tế Trung Quốc.
  • Thứ hai, đánh giá những thành tựu cũng như khó khăn trong việc thực hiện thu hút FDI tại Trung Quốc để rút ra những bài học kinh nghiệm, định hướng chiến lược cho Việt Nam trong chính sách thực hiện thu hút và sử dụng hiệu quả FDI.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Trung Quốc và kinh nghiệm đối với Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung vào lãnh thổ Trung Quốc (đặc khu kinh tế, các thành phố mở cửa ven biển, khu vực nội địa miền Trung và miền Tây) và đối chiếu với thực tiễn kinh tế Việt Nam. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát từ khi Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa năm 1978 đến năm 2010, trong đó phân tích chuyên sâu các giai đoạn phát triển chính sách và chuỗi số liệu thống kê từ năm 1979 đến năm 1998, kết hợp cập nhật số liệu tổng hợp đến năm 2010 và mốc so sánh kinh tế năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên khái niệm chuẩn tắc về đầu tư trực tiếp nước ngoài: FDI (Foreign Direct Investment) là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Tác giả phân tích các đặc trưng cơ bản chi phối hoạt động FDI bao gồm:

  • Quy định tỷ lệ vốn pháp định tối thiểu của nhà đầu tư nước ngoài theo luật định của từng nước sở tại (văn bản dẫn chứng Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định mức góp vốn tối thiểu 30%, tại Hoa Kỳ là 10%, một số nước khác quy định 20%).
  • Quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp tỷ lệ thuận với tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào vốn pháp định.
  • Kết quả kinh doanh và rủi ro được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế với nước sở tại và phân phối lợi tức cổ phần.
  • Các hình thức triển khai cơ bản gồm thành lập doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập doanh nghiệp.

Về cơ sở pháp lý, tác giả khảo sát hệ thống văn bản pháp luật và văn bản điều hành kinh tế của Trung Quốc qua các thời kỳ, bao gồm:

  • Quyết định Hội nghị Trung ương III khóa XI Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 12/1978).
  • Luật Doanh nghiệp liên doanh Trung Quốc - nước ngoài (công bố tháng 7/1979, sửa đổi tháng 4/1990).
  • Quy định về các Xí nghiệp hợp tác Trung Quốc - nước ngoài (tháng 4/1984).
  • Luật các công trình dùng vốn nước ngoài của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (thông qua ngày 12/4/1986).
  • Quy định tạm thời của Hội đồng Nhà nước về khuyến khích đầu tư nước ngoài (gọi tắt là 22 điều khoản, ban hành tháng 10/1986).
  • Luật và các quy định khuyến khích các nhà đầu tư Đài Loan đầu tư vào Đại lục (tháng 7/1988).
  • Quy định về khuyến khích đầu tư của người Hoa và Hoa kiều ở Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan (tháng 5/1990).
  • Quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài và chính sách miễn thuế tại Khu mới Phố Đông Thượng Hải (tháng 9/1990).
  • Quy định chi tiết về thực hiện Luật công trình dùng vốn nước ngoài (Bộ Ngoại thương và Hợp tác quốc tế Trung Quốc xuất bản tháng 10/1990).
  • Chỉ dẫn đầu tư nước ngoài vào các ngành (ban hành ngày 1/1/1988 và điều chỉnh năm 1998).
  • Quy định của Ban Thường vụ Quốc hội tỉnh Phúc Kiến về doanh nghiệp có vốn nước ngoài (tháng 11/1996).

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu bao gồm phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh đối chiếu kinh tế vĩ mô, kết hợp việc sử dụng kết quả thống kê mô tả với vận dụng lý luận kinh tế để làm rõ các biến động chính sách. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ Niên giám Mậu dịch Kinh tế đối ngoại Trung Quốc (1993), Niên giám Thống kê các năm từ 1985 đến 1994 của Cục Thống kê Nhà nước Trung Quốc, số liệu thống kê chính thức của Bộ Thương mại Trung Quốc, báo cáo của Ngân hàng Công thương Nhà nước Trung Quốc và các tài liệu khảo sát chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về FDI tại Trung Quốc

Chương 1 tập trung phân tích tiến trình lịch sử, các yếu tố hấp dẫn, đặc điểm cơ bản và tác động hai mặt của dòng vốn FDI đối với nền kinh tế Trung Quốc qua ba giai đoạn phát triển:

  • Giai đoạn thăm dò (1979 - 1985): FDI bắt đầu xuất hiện dưới 3 hình thức (liên doanh, hợp tác kinh doanh và 100% vốn nước ngoài), thí điểm tại các đặc khu kinh tế (Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn, Hải Nam) và mở rộng ra 14 thành phố ven biển từ năm 1984. Chủ đầu tư chủ yếu là Hoa kiều Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan với quy mô nhỏ, tập trung vào gia công lắp ráp linh kiện phụ tùng. Toàn giai đoạn có 992 dự án được phê chuẩn với tổng vốn hợp đồng 6 tỷ USD và vốn thực hiện 1,166 tỷ USD. Năm 1984, số xí nghiệp có vốn nước ngoài mới đạt 1.857, năm 1985 tăng thêm 65%.
  • Giai đoạn tăng trưởng và ổn định (1986 - 1991): Quốc hội Trung Quốc ban hành Luật các công trình dùng vốn nước ngoài (1986) và chính phủ ban hành 22 điều khoản khuyến khích đầu tư. Dù chịu tác động của sự kiện Thiên An Môn năm 1989 làm số dự án mới giảm 2,8% (còn 5.579 dự án), nhưng vốn ký kết vẫn tăng 5,6% (đạt 5,6 tỷ USD) và vốn thực tế tăng 6,3% (đạt 3,393 tỷ USD). Việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp liên doanh năm 1990 (cam kết không quốc hữu hóa, miễn giảm thuế) và mở rộng đầu tư vào Phố Đông đã thúc đẩy dòng vốn tăng mạnh: năm 1991 có 12.000 dự án mới được phê duyệt (tăng 65%), vốn cam kết đạt 12 tỷ USD và vốn thực tế đạt 4,37 tỷ USD.
  • Giai đoạn điều chỉnh tiến tới phù hợp, hiệu quả (1992 đến nay): Khởi đầu từ quyết định mở rộng đối ngoại năm 1992, mở cửa hàng loạt thành phố biên giới (Bằng Tường, Đông Hưng, Hà Khẩu, Văn Đĩnh, Thụy Lệ) và tiến sâu vào nội địa. Năm 2002, FDI vào Trung Quốc đạt 52,7 tỷ USD, vượt Hoa Kỳ. Năm 2010, vốn FDI thực hiện đạt 105,735 tỷ USD (tăng 17,44% so với năm 2009) với 27.406 doanh nghiệp mới được phê duyệt (tăng 16,94%).

Về đối tác đầu tư, nguồn vốn từ tư bản người Hoa và Hoa kiều giữ vị trí áp đảo, tiếp sau đó là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu và Đông Nam Á.

STT Quốc gia / Vùng lãnh thổ Kim ngạch thực tế giai đoạn 1979 - 1993 (tỷ USD) Tỷ trọng giai đoạn 1979 - 1993 (%) Kim ngạch thực tế năm 2010 (tỷ USD)
1 Hồng Kông (và Ma Cao) 39,104 63,20 67,474
2 Hoa Kỳ 5,237 8,46 4,052
3 Nhật Bản 5,203 8,40 4,242
4 Đài Loan 5,056 8,17 6,701
5 Singapore 0,890 1,44 5,657
6 Pháp 0,602 0,97 1,239
7 Vương quốc Anh 0,579 0,94 1,642
8 Hàn Quốc 0,550 0,89 2,693
9 Đức 0,527 0,85 0,933
10 Thái Lan 0,391 0,63 —
11 Hà Lan — — 0,952
Tổng Tổng thu hút toàn quốc 61,870 100,00 105,735

Về quy mô hạng mục đầu tư, giai đoạn 1979 - 1992 có 90.791 hạng mục với tổng vốn ký kết 110,464 tỷ USD, quy mô bình quân đạt 1,217 triệu USD/hạng mục. Quy mô bình quân trải qua chu kỳ suy giảm trong giai đoạn 1988 - 1991 do tập trung vào sản xuất hàng tiêu dùng nhẹ thâm dụng lao động, sau đó tăng mạnh trở lại từ năm 1992 nhờ sự gia nhập của các tập đoàn xuyên quốc gia.

Năm Quy mô bình quân hạng mục (triệu USD) Năm Quy mô bình quân hạng mục (triệu USD)
1985 1,815 1990 0,881
1986 1,846 1991 0,916
1987 1,661 1992 1,191
1988 0,882 1993 1,335
1989 0,935 1994 1,714

Về hình thức đầu tư, tính đến cuối năm 1994, Trung Quốc phê chuẩn 221.608 hạng mục doanh nghiệp có vốn nước ngoài: doanh nghiệp chung vốn (liên doanh) chiếm 63,6% số lượng và 48,4% vốn cam kết; doanh nghiệp hợp tác kinh doanh chiếm 15,3% số lượng và 25,9% vốn cam kết; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 21,1% số lượng và 25,7% vốn cam kết. Từ năm 1993, hình thức 100% vốn nước ngoài tăng trưởng nhanh nhất (năm 1994 tăng 34% so với năm trước). Các hình thức mới như công ty cổ phần, hợp đồng BOT và phát hành cổ phiếu/trái phiếu quốc tế (năm 1993 đạt 1,37 tỷ USD) bắt đầu xuất hiện.

Về lĩnh vực đầu tư, trên 75% dự án mang tính sản xuất công nghiệp (dệt, hóa chất, máy móc, điện tử). Giai đoạn 1992 - 1993 chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét:

Ngành nghề Số dự án năm 1992 Số dự án năm 1993
Công nghiệp 23.302 Không nêu tổng
Công trình công cộng 2.019 4.456
Nông nghiệp 501 993
Lưu trữ, kho tàng 410 2.096
Kiến trúc 396 1.343
Khác 256 514
Giao thông, thông tin 180 496
Văn hóa, giáo dục, truyền thanh 49 185
Khoa học kỹ thuật, tư vấn 43 461
Y tế, thể dục 13 181

Về địa bàn đầu tư, dòng vốn tập trung tại 5 tỉnh, thành ven biển đông nam gồm Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tô, Sơn Đông và Thượng Hải (trong hai năm 1992 - 1993 chiếm 74,9% số dự án, 80,7% vốn ký kết và 85,9% vốn thực tế cả nước). Sau năm 1992, chính phủ Trung Quốc định hướng dòng vốn chuyển dịch vào miền Trung và miền Tây (Hà Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Cam Túc, Tân Cương, Ninh Hạ, Thanh Hải).

Tác động của FDI tới kinh tế Trung Quốc:

  • Tác động tích cực: Bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển (tỷ trọng FDI trong tổng đầu tư tài sản cố định toàn xã hội tăng từ 2,8% thập niên 1980 lên 13% năm 1993 và 17% năm 1994); đóng góp 4 - 5% vào mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm (chiếm trên 30% giá trị tăng trưởng kinh tế); tạo việc làm cho 14 triệu lao động với mức thu nhập bình quân năm tại doanh nghiệp FDI đạt 2.663,4 NDT, cao hơn 17,09% so với doanh nghiệp nhà nước (2.274 NDT); gia tăng nguồn thu ngân sách (thuế liên quan đến FDI năm 1989 là 3,6 tỷ NDT, năm 1992 tăng lên 10,7 tỷ NDT); chuyển giao công nghệ hiện đại (85% kỹ thuật đưa vào đạt trình độ trung bình thế giới cuối thập niên 80, trong đó 45% đạt trình độ thập niên 90); thúc đẩy ngoại thương (năm 1994, kim ngạch xuất nhập khẩu của khối FDI đạt 87,65 tỷ USD, chiếm 37% cả nước, riêng xuất khẩu đạt 34,71 tỷ USD, chiếm 28,7%).
  • Tác động tiêu cực: Khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên do tình trạng đầu tư trùng lặp; nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ do tiếp nhận kỹ thuật lạc hậu so với tiêu chuẩn quốc tế; gia tăng mức độ phân hóa xã hội và khoảng cách phát triển giữa vùng duyên hải miền Đông và nội địa miền Tây; xuất hiện hiện tượng tham nhũng, lãng phí tiêu dùng; dòng vốn FDI có dấu hiệu sụt giảm trong giai đoạn 1994 - 1998 (năm 1994 giảm 43%, năm 1995 giảm 22,2%, năm 1996 giảm 33,7%, năm 1997 giảm 19,9% và 10 tháng đầu năm 1998 giảm 4,19%).

Chương 2: Chính sách thu hút FDI và bài học kinh nghiệm

Chương 2 phân tích quá trình tiến hóa của hệ thống chính sách thu hút FDI tại Trung Quốc qua các thời kỳ:

  • Giai đoạn 1978 - 1985: Tập trung thí điểm thành lập các đặc khu kinh tế, đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc; đơn giản hóa thủ tục thẩm định hồ sơ, cấp phép đăng ký dự án; áp dụng chính sách ưu đãi thuế và cho phép chuyển lợi nhuận về nước.
  • Giai đoạn 1986 - 1991: Chuyển trọng tâm sang ổn định và nâng cao hiệu quả dòng vốn thông qua luật hóa các quy định ưu đãi. Việc ban hành Luật các công trình dùng vốn nước ngoài và 22 điều khoản năm 1986 tập trung khuyến khích các dự án định hướng xuất khẩu và dự án áp dụng kỹ thuật tiên tiến. Năm 1988 ban hành quy chế ưu đãi thu hút vốn Đài Loan. Năm 1990 sửa đổi Luật Doanh nghiệp liên doanh, bổ sung các cam kết pháp lý không thực hiện quốc hữu hóa, không giới hạn thời gian hợp đồng đối với một số dự án, cho phép chỉ định Chủ tịch Hội đồng quản trị không phân biệt quốc tịch, đồng thời cấp quy chế ưu đãi thuế đặc thù cho Khu mới Phố Đông Thượng Hải.
  • Giai đoạn 1992 đến nay: Trung Quốc chuyển trọng tâm chính sách từ thu hút theo "số lượng" sang nâng cao "chất lượng" dự án:
    • Khuyến khích thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) đầu tư vào công nghệ cao, nới lỏng cấp phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
    • Từng bước điều chỉnh chính sách ưu đãi theo chuẩn mực quốc tế: bãi bỏ chính sách miễn giảm thuế nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu từ ngày 1/4/1996; đến ngày 1/1/1998 tái lập chính sách miễn thuế hải quan và thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị sản xuất nhập khẩu phục vụ các ngành thuộc diện khuyến khích theo danh mục "Chỉ dẫn đầu tư nước ngoài vào các ngành" (nông nghiệp công nghệ mới, vật liệu xây dựng, dịch vụ bảo vệ môi trường).
    • Cải cách tài chính và ngoại thương: cho phép chuyển đổi đồng Nhân dân tệ (NDT) trong tài khoản vãng lai từ ngày 1/12/1996, cho phép thí điểm ngân hàng nước ngoài kinh doanh đồng NDT và mở rộng cơ sở thương mại bán buôn, bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài tại Phố Đông và Thâm Quyến.
    • Thực thi chính sách hướng dòng vốn về miền Trung và miền Tây: phân cấp thẩm quyền phê duyệt dự án vốn nước ngoài cho chính quyền các tỉnh nội địa và khu tự trị từ hạn mức 10 triệu USD lên 30 triệu USD.
    • Tăng cường bảo vệ pháp lý cho nhà đầu tư nước ngoài: thiết lập mặt bằng giá dịch vụ bình đẳng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước tại Thâm Quyến từ ngày 1/1/1997; ban hành quy định bảo vệ doanh nghiệp FDI khỏi tình trạng chính quyền địa phương tùy tiện thu phí trái phép (tiêu biểu là quy định của tỉnh Phúc Kiến ban hành tháng 11/1996).

Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm vào Việt Nam

Theo kết cấu mục lục và định hướng của khóa luận, nội dung Chương 3 được thiết kế nhằm đối chiếu thực tiễn kinh tế Trung Quốc với Việt Nam:

  • Phân tích những nét tương đồng về bối cảnh địa chính trị, văn hóa, thể chế và điểm xuất phát cải cách kinh tế giữa hai nước láng giềng.
  • Đánh giá thực trạng hoạt động thu hút và sử dụng dòng vốn FDI tại Việt Nam từ sau Đổi mới năm 1986, nhận diện các khó khăn về cơ sở hạ tầng, năng lực hấp thụ công nghệ và thể chế quản lý.
  • Đề xuất các giải pháp vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc vào hoạch định chính sách FDI tại Việt Nam: kiên định chính sách mở cửa theo lộ trình nhiều tầng nấc; chuyển đổi trọng tâm từ thâm dụng lao động sang thu hút công nghệ nguồn từ các tập đoàn xuyên quốc gia; phân định thẩm quyền quản lý giữa trung ương và địa phương; chủ động kiểm soát các tác động tiêu cực về suy thoái môi trường và bất bình đẳng vùng miền.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với hệ thống dữ liệu kinh tế:

  • Hệ thống hóa tiến trình thu hút FDI của Trung Quốc qua hơn 30 năm, chỉ ra quy luật dịch chuyển từ các dự án gia công nhỏ lẻ sang các hạng mục quy mô lớn sử dụng kỹ thuật cao; ghi nhận mức tăng trưởng vốn thực hiện từ 1,166 tỷ USD (1979 - 1985) lên 105,735 tỷ USD (năm 2010).
  • Làm rõ cấu trúc nguồn vốn FDI tại Trung Quốc với vai trò chi phối của tư bản Hoa kiều (chiếm 71,4% vốn thực tế giai đoạn 1979 - 1993) và sự thay đổi cơ cấu theo hình thức đầu tư khi doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tăng trưởng mạnh sau năm 1992.
  • Lượng hóa các đóng góp kinh tế vĩ mô của FDI tại Trung Quốc: đóng góp 4 - 5% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm; giải quyết việc làm cho 14 triệu lao động; tạo ra 37% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu quốc gia vào năm 1994.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp chính sách bao gồm: hoàn thiện cơ sở hạ tầng cứng song song với hạ tầng mềm; chuyển dịch thu hút FDI từ số lượng sang chất lượng thông qua việc điều chỉnh danh mục ngành ưu đãi; đẩy mạnh phân cấp quản lý đầu tư cho địa phương đi kèm cơ chế kiểm soát minh bạch thủ tục hành chính.
  • Đóng góp khoa học của đề tài thể hiện ở việc tổng hợp toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật và chuỗi số liệu kinh tế đối ngoại của Trung Quốc trong giai đoạn 1978 - 2010, tạo lập nguồn dữ liệu thực chứng phục vụ nghiên cứu so sánh thể chế kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số điểm hạn chế do phạm vi tiếp cận của tư liệu nghiên cứu:

  • Dữ liệu định lượng chi tiết theo bảng biểu phân loại ngành và địa bàn mới chỉ bao quát sâu chuỗi số liệu từ năm 1979 đến năm 1994 và các năm 1997 - 1998; các năm tiếp theo đến mốc 2010 chủ yếu sử dụng số liệu vĩ mô tổng hợp của Bộ Thương mại Trung Quốc, chưa đi sâu vào từng phân ngành công nghiệp kỹ thuật cao.
  • Phần phân tích kinh nghiệm và vận dụng đối với Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nguyên lý so sánh chính sách vĩ mô, chưa có điều kiện khảo sát mô hình hồi quy lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố thu hút FDI tại từng địa phương của Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát tác động của dòng vốn FDI công nghệ cao trong bối cảnh thực thi các cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và chuỗi cung ứng toàn cầu hiện đại tại cả Trung Quốc và Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Kinh tế quốc tế, Kinh doanh quốc tế, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế cần tài liệu nghiên cứu về quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế của Trung Quốc.
  • Cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư, cơ quan hoạch định chính sách thương mại và quản lý vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Các nội dung có giá trị tham chiếu cao nhất gồm có:

  • Tổng hợp hệ thống các văn bản pháp luật về FDI của Trung Quốc (Luật các công trình dùng vốn nước ngoài năm 1986, văn bản 22 điều khoản, quy định ưu đãi Phố Đông Thượng Hải và các điều chỉnh thuế nhập khẩu thiết bị các năm 1996, 1998).
  • Phương pháp luận phân kỳ lịch sử và tiêu chí đánh giá các dòng vốn FDI theo quy mô, đối tác, hình thức sở hữu và phân bố không gian địa lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ trọng đóng góp của tư bản Hoa kiều và các vùng lãnh thổ Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan vào tổng vốn FDI tại Trung Quốc giai đoạn 1979 - 1993 là bao nhiêu?

Trong giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1993, tổng vốn đầu tư trực tiếp của tư bản Hoa kiều từ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan chiếm 71,4% trong tổng vốn FDI thực tế vào Trung Quốc (đạt 61,87 tỷ USD). Riêng khu vực Hồng Kông và Ma Cao đạt 39,104 tỷ USD (chiếm 63,20%), còn Đài Loan đạt 5,056 tỷ USD (chiếm 8,17%).

2. Quy mô vốn bình quân trên mỗi hạng mục dự án FDI tại Trung Quốc biến động như thế nào trong giai đoạn 1985 - 1994?

Quy mô bình quân mỗi hạng mục dự án trải qua biến động theo chu kỳ: năm 1985 đạt 1,815 triệu USD, năm 1986 đạt 1,846 triệu USD, sau đó suy giảm liên tục trong giai đoạn 1988 - 1991 (năm 1988 đạt 0,882 triệu USD, năm 1990 chạm mức 0,881 triệu USD) do tập trung vào công nghiệp nhẹ gia công hàng xuất khẩu thâm dụng lao động. Từ năm 1992, quy mô tăng trưởng trở lại: đạt 1,191 triệu USD (năm 1992), 1,335 triệu USD (năm 1993) và tăng lên 1,714 triệu USD (năm 1994) nhờ sự gia tăng của các dự án lớn từ các tập đoàn xuyên quốc gia.

3. Chính sách thuế nhập khẩu thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất của doanh nghiệp FDI tại Trung Quốc đã thay đổi như thế nào trong các năm 1996 và 1998?

Từ ngày 1/4/1996, Trung Quốc bãi bỏ các điều khoản miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với thiết bị và nguyên vật liệu của các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và xí nghiệp trong các đặc khu kinh tế nhằm bình đẳng hóa chính sách thuế theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, để tiếp tục khuyến khích công nghệ cao, từ ngày 1/1/1998, chính phủ Trung Quốc quyết định tái lập việc miễn thuế hải quan và thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị nhập khẩu phục vụ sản xuất thuộc các dự án trong danh mục ngành khuyến khích đầu tư.

4. Khóa luận ghi nhận sự chênh lệch thu nhập giữa lao động tại doanh nghiệp có vốn FDI và doanh nghiệp nhà nước tại Trung Quốc như thế nào?

Khối doanh nghiệp FDI ("xí nghiệp ba loại vốn") chi trả mức lương bình quân hàng năm là 2.663,4 NDT, cao hơn 17,09% so với doanh nghiệp nhà nước (2.274 NDT). Đối với lao động có trình độ trên đại học, mức lương tại doanh nghiệp FDI đạt 2.390,3 NDT/năm (so với 1.061,4 NDT tại doanh nghiệp nhà nước); tốt nghiệp đại học đạt 2.283,3 NDT (so với 1.034,3 NDT). Ngoài ra, doanh nghiệp FDI chi trả lương cho vị trí quản lý đạt 3.014,1 NDT/năm và kỹ thuật viên đạt 2.881,3 NDT/năm (chênh lệch 132,8 NDT), trong khi tại doanh nghiệp nhà nước thu nhập giữa nhân viên kỹ thuật và nhân viên quản lý xấp xỉ ngang nhau ở mức 2.424,6 NDT/năm.

5. Trung Quốc đã áp dụng giải pháp chính sách gì sau năm 1992 để điều tiết dòng vốn FDI vào các tỉnh miền Trung và miền Tây?

Chính phủ Trung Quốc đã ban hành chính sách phân cấp quản lý đầu tư, cho phép chính quyền các tỉnh nằm sâu trong nội địa, vùng xa xôi và các khu tự trị được quyền phê chuẩn các dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư lên tới 30 triệu USD (so với hạn mức quy định trước đó là 10 triệu USD). Đồng thời, chính phủ định hướng các tỉnh nội địa tận dụng chi phí lao động thấp và tài nguyên khoáng sản tại chỗ để phát triển các ngành nghề có ưu thế tương đối và mở rộng các xí nghiệp hương trấn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã phân tích có hệ thống tiến trình thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc từ thời điểm cải cách mở cửa năm 1978 đến năm 2010. Dựa trên chuỗi số liệu thống kê thực chứng và hệ thống văn bản pháp luật, đề tài làm rõ vai trò động lực của FDI đối với quá trình công nghiệp hóa, giải quyết việc làm và thúc đẩy ngoại thương của Trung Quốc, đồng thời chỉ ra các tác động bất lợi về môi trường sinh thái và bất bình đẳng vùng miền. Công trình là tài liệu tham khảo cung cấp nhiều cơ sở thực tiễn hữu ích cho việc hoàn thiện chính sách thu hút FDI có chọn lọc và cân bằng phát triển kinh tế tại Việt Nam.