CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN FDI TẠI TRUNG QUỐC 1. Tổng quan về FDI 1. Khái niệm FDI Đầu tư trực tiếp FDI (Foreign Direct Investment) là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư.
Đặc điểm FDI Tỷ lệ vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định của dự án đạt mức tối thiểu theo luật đầu tư của từng nước quy định. Ví dụ luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qui định chủ đầu tư nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án. Tại Mỹ là 10%, 1 số nước khác là 20%. Các nhà đầu tư trực tiếp quản lý và điều hành dự án mà họ bỏ vốn.
Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ phần trăm góp vốn của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vào vốn pháp định của dự án. Nếu doanh nghiệp góp 100% vốn thì doanh nghiệp thuộc toàn quyền sở hữu của chủ đầu tư nước ngoài và quyền quản lý cungc thuộc về họ. Kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được chia theo tỷ lệ phần trăm góp vốn của các bên vào vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần. FDI thường được sử dụng thông qua việc thành lập doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động; hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
Tác động của FDI tới nước tiếp nhận đầu tư Tích cực: Gia tăng công ăn việc làm cho người dân. Khi vốn tăng kéo theo quy mô sản xuất sẽ tăng và từ đó sẽ tạo ra nhiều hơn công ăn việc làm cho người lao động, góp phần hạn chế được tình trạng thất nghiệp. Giải quyết tình trạng thiếu vốn của nước sở tại. Tạo điều kiện khai thác được nhiều vốn từ nước ngoài do không quy định số vốn tối đa ma chỉ quy định số vốn tối thiểu.
Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, khai thác hiệu quả nhất tiềm năng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… Chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiên tiến và kỹ năng quản lý cũng như năng lực maketing từ bên ngoài Tăng thu ngân sách thông qua việc đánh thuế. Góp phần cải tạo cảnh quan xã hội, tăng năng suất và thu nhập quốc dân. Tiêu cực: Lệ thuộc vào nước ngoài ngày càng nhiều, về mọi mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội… Không có quy hoạch đầu tư cụ thể sẽ dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, môi trường sẽ nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ của thế giới do không biết chọn lọc công nghệ phù hợp, tiên tiến.
Công nghệ được nước ngoài chuyển giao cho tuy ở trong nước có thể là công nghệ mới nhưng so với quốc tế thì đac trở nên lạc hậu… dẫn đến việc tụt hậu ngày càng xa. lOMoARcPSD|17160101 Hạn chế trong việc bố trí cơ cấu đầu tư do việc quyết định lĩnh vực và địa bàn đầu tư chủ yếu phụ thuộc vào đối tác. Do vậy, sự phân hóa giữa cac vùng ngày cang rõ rệt, sự khác biệt trong sự phát triển giữa các ngành cũng vì thế mà gia tăng. Thực trạng thu hút FDI tại Trung Quốc Tháng 12 năm 1978, hội nghị Trung ương III khóa XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đánh dấu sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của quốc gia.
Trung Quốc đã thực hiện chính sách mở cửa giao lưu với quốc tế. Đây là quốc sách cơ bản của đất nước Trung Quốc một thời kì dài. Qua tinh thần chỉ đạo trên các hoạt động kinh tế đối ngoại được thực hiện trên rộng khắp cả nước. Thời kì này, Trung Quốc bắt đầu thực hiện chính sách thu hút đầu tư và đã thu được một lượng vốn FDI khá lớn.
Với sự thay đổi và hoàn thiện dần, chính sách thu hút đầu tư của Trung Quốc đã phát huy tác dụng và mang lại nhiều thành công cho Trung Quốc. Giai đoạn thăm dò (1979 - 1985) Các xí nghiệp dùng vốn nước ngoài chủ yếu dưới 3 hình thức: liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và 100% vốn nước ngoài. Lần đầu tiên các doanh nghiệp sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thành lập ở các đặc khu kinh tế, tiếp đó là ở các thành phố mở cửa ven biển trên cơ sở thử nghiệm. Giai đoạn đầu tiên, Trung Quốc thực hiện việc chọn các vùng có điều kiện thuận lợi nhất để tạo điều kiện mở cửa trước tiên.
Và những vùng này đã trở thành những đặc khu kinh tế, được sự ưu tiên phát triển trước. Chính vì thế đặc khu kinh tế là những nơi thu hút được nhiều vốn đầu tư nhất. Trong thời gian này, chủ đầu tư nước ngoài vẫn còn băn khoăn nghi ngại về môi trường đầu tư mới mẻ này. Hầu hết các chủ đầu tư vào Trung Quốc khi đó là những Hoa kiều từ Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, với quy lOMoARcPSD|17160101 mô đầu tư nhỏ.
Hoạt động kinh doanh cũng chủ yếu là gia công, lắp đặt các linh kiện và phụ tùng nhập khẩu. Trong suốt thời kỳ này, cũng chỉ có 992 dự án đầu tư nước ngoài được phê chuẩn với tổng giá trị hợp đồng và giá trị cam kết tương ứng là 6 tỷ và 1,166 tỷ USD. Năm 1983 nhiều công ty nước ngoài tăng đầu tư vào Trung Quốc. Số dự đầu tư mới tăng thêm tới 470, khối lượng vốn được phê chuẩn và vốn thực tế sử dụng tương ứng là 1,732 tỷ và 0,636 tỷ USD.
Địa bàn thu hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) được mở rộng thêm trong các năm 1984 và 1985 như mở cửa 14 thành phố ven biển và 3 khu phát triển kinh tế. Chính quyền địa phương ở các khu vực này đã thực hiện nhiều biện pháp để cải thiện cơ sở hạ tầng như phát triển mạng lưới giao thông vận tải, thông tin, cấp điện, cấp nước. thực hiện nhiều chính sách ưu đãi về thuế, lợi nhuận, đơn giản hoá các thủ tục hành chính như lập hồ sơ, kiểm tra, phê chuẩn và đăng ký dự án. Tháng 4/1984, Trung Quốc công bố Quy định về các Xí nghiệp hợp tác Trung Quốc - nước ngoài các cấp chính quyền địa phương lại đưa ra nhiều các biện pháp ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài.
Kết quả là số các dự án FDI vào Trung Quốc tăng rất nhanh qua từng năm. Năm 1984 số Xí nghiệp dùng vốn nước ngoài mới tăng lên 1857, gấp hơn 2 lần mức năm 1983. Năm 1985, mức tăng số Xí nghiệp mới đạt 65% (3. Khối lượng vốn đầu tư cam kết trong các năm 1984 và 1985 tăng 53% và 120% so với các năm trước.
Tuy vậy trong giai đoạn này các nhà đầu tư mang vốn vào Trung Quốc với số lượng ít và mang tính chất chỉ là thăm dò thị trường mới. Giai đoạn tăng trưởng và ổn định(1986-1991) Từ năm 1986 đến năm 1988, sau khi đạt được những kết quả đáng chú ý trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các năm 1984 và 1985, đây là thời gian Trung Quốc cần ổn định lượng FDI mới, xem xét việc sử dụng lOMoARcPSD|17160101 hiệu quả FDI cũ và cũng để đánh giá tổng kết kinh nghiệm, hoàn thiện hơn nữa môi trường đầu tư. Ngày 12/4/1986, Quốc hội Trung Quốc thông qua Luật các công trình dùng vốn nước ngoài của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đồng thời Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các quy định tạm thời của Hội đồng Nhà nước về khuyến khích đầu tư nước ngoài vào tháng 10 năm 1986. Trong khi đó, các phòng ban của Chính phủ và chính quyền các địa phương đã liên tiếp công bố hàng loạt các biện pháp triển khai thực hiện các quy định này.
Nhiều nơi đưa ra các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các dự án sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sử dụng kỹ thuật mới. Năm 1987, Chính phủ Trung Quốc chỉ đạo các cơ quan hữu quan kiểm tra, xem xét tình hình thực hiện 22 điều khoản ở trên. Tháng 7/1988 Chính phủ lại công bố Luật và các quy định khuyến khích các nhà đầu tư Đài Loan đầu tư vào Đại lục. Do vậy, một làn sóng FDI mới lại đến Trung Quốc trong năm 1988.
Các dự án đầu tư mới tăng 166% so với năm 1987, đạt con số 5. Khối lượng vốn đầu tư mới theo cam kết đạt 5,297 tỷ USD, tăng 3%. Do tác động của sự kiện Thiên An Môn (4/6/1989) khiến các nhà đầu tư lo ngại, các dự án đầu tư nước ngoài mới phê chuẩn trong năm 1989 giảm 2,8% so với năm 1988, còn 5.579 dự án, nhưng khối lượng cam kết theo hợp đồng và khối lượng đầu tư thực tế lại tăng tương ứng là 5,6% và 6,3%, đạt 5,6 tỷ USD và 3,393 tỷ USD. Tháng 4/1990, sau khi tổng kết kinh nghiệm 10 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Trung Quốc đã sửa đổi luật Liên doanh Trung Quốc - nước ngoài của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công bố năm 1979, đồng thời cụ thể Luật thành cá điều khoản như: không thực hiện quốc hữu hoá các Xí nghiệp có vốn nước ngoài, giới hạn thời gian thực hiện hợp đồng, bổ nhiệm chủ tịch Hội đồng quản trị, miễn giảm thuế.
lOMoARcPSD|17160101 Tháng 5/1990, Chính phủ Trung Quốc lại công bố quy định về khuyến khích đầu tư của người Hoa và Hoa kiều yêu nước ở Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan và đến tháng 9 năm đã phê chuẩn quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài và miễn thuế thu nhập và thuế kinh doanh cho các xí nghiệp dùng vốn nước ngoài ở Khu mới Phố Đông Thượng Hải. Tất cả các biện pháp này đã cho thế giới thấy lập trường của Trung Quốc rất kiên định trong thực hiện các chính sách mở cửa kinh tế và bảo vệ quyền lợi pháp lý cũng như lợi ích của các nhà ĐTNN, đặc biệt đối với người Hoa và Hoa Kiều. Do vậy, dù các nước phương Tây đã thực hiện các biện pháp trừng phạt Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn vì chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Trung Quốc chính là mối lo ngại cho họ, đầu tư nước ngoài và các hoạt động kinh doanh của Hoa kiều ở Trung Quốc vẫn gia tăng trong năm 1990, với 7.237 dự án đầu tư mới phê chuẩn, tăng 29% so với năm 1989. Trong năm 1991, lượng FDI lại tăng hơn nữa, với 12.