Tổng quan nghiên cứu

Năm 938, chiến thắng Bạch Đằng lừng lẫy dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền đã đập tan mưu đồ xâm lược của quân Nam Hán, chính thức chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc và mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài cho dân tộc Việt Nam. Trên bình diện tín ngưỡng dân gian, thành phố Hải Phòng là địa phương sở hữu mật độ thờ phụng Đức vương Ngô Quyền đậm đặc nhất cả nước. Khảo sát thực địa ghi nhận toàn thành phố hiện có 28 làng xã cùng 1 quần thể danh thắng đang phụng thờ Ngô Vương tại 36 công trình tín ngưỡng tâm linh, trong khi các nguồn tư liệu thư tịch cổ xác nhận con số này từng đạt tới 37 làng xã trong quá khứ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải mã nguồn gốc hình thành, tiến trình biến đổi không gian và vai trò của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân đô thị cảng Hải Phòng. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa toàn bộ các di tích, thần tích, sắc phong liên quan đến Ngô Quyền, đồng thời phân tích cơ chế chuyển hóa từ một vị anh hùng dân tộc trở thành vị Thành hoàng làng bảo trợ cho cộng đồng cư dân ven biển.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các quận nội thành trọng điểm gồm Hải An, Ngô Quyền, Lê Chân, Hồng Bàng, Kiến An, Dương Kinh, Đồ Sơn và mở rộng sang khu vực cửa sông Bạch Đằng thuộc huyện Thủy Nguyên. Khung thời gian khảo sát trải dài từ mốc lịch sử năm 1853 khi vua Tự Đức ban sắc phong đồng loạt cho 17 làng xã thuộc huyện An Dương cho đến giai đoạn hiện đại. Công trình mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi làm sáng tỏ vai trò liên kết cộng đồng của 18 làng xã tại quận Hải An, cung cấp bức tranh toàn cảnh về sự dung hợp giữa lịch sử và tín ngưỡng bản địa trong tiến trình đô thị hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết về sự thánh hóa nhân thần và cấu trúc tín ngưỡng Thành hoàng làng Việt Nam của các học giả Đào Duy Anh, Nguyễn Duy Hinh và Tạ Chí Đại Trường. Khung phân tích xem xét sự chuyển hóa của một nhân vật lịch sử có thật thành biểu tượng linh thiêng thông qua lăng kính Nho giáo và sự thừa nhận của chính quyền phong kiến trung ương.

Ba khái niệm học thuật then chốt được áp dụng gồm: Nhân thần (nhân vật lịch sử được thần thánh hóa dựa trên công trạng), Thành hoàng làng (vị thần bảo trợ không gian sinh tồn của làng xã) và Hộ nhi tạo lệ (đặc ân miễn trừ binh dịch, thuế khóa để chuyên lo việc tế tự cho vua). Mô hình nghiên cứu vận hành dựa trên cơ chế ba chiều: Nguồn gốc lịch sử (chiến công năm 938), Tâm thức dân gian (nhu cầu che chở tâm linh) và Sự can thiệp chính trị (hệ thống sắc phong từ triều đại phong kiến giai đoạn từ năm 1730 đến năm 1924).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được xây dựng từ ba trụ cột chính. Thứ nhất là khối tư liệu chính sử thành văn gồm Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục và Việt Nam quốc sử khảo. Thứ hai là hệ thống văn bản Hán Nôm gồm bản ngọc phả thần tích do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính biên soạn năm 1572 cùng 39 đạo sắc phong lưu giữ tại miếu Hạ Đoạn và Bảo tàng Hải Phòng. Thứ ba là dữ liệu điền dã dân tộc học được thu thập trực tiếp tại cơ sở.

Phương pháp chọn mẫu khảo sát được thực hiện theo phương thức bao hàm toàn bộ với cỡ mẫu là 100% trong tổng số 28 làng xã và 36 công trình thờ tự hiện hữu tại 7 quận nội thành Hải Phòng. Luận văn tiến hành phỏng vấn sâu hơn 15 nhân chứng lịch sử gồm các vị trưởng ban khánh tiết, phó ban khánh tiết và các bậc cao niên am hiểu điển tích làng xã. Phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic được lựa chọn làm công cụ phân tích chủ đạo vì phương pháp này cho phép bóc tách từng lớp trầm tích văn hóa theo trục thời gian tuyến tính từ năm 938, qua mốc sắc phong năm 1853, đến các biến thiên kinh tế - xã hội thời kỳ đô thị hóa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng đã đưa ra bốn phát hiện cốt lõi về hiện trạng và sự biến đổi của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền tại Hải Phòng:

Thứ nhất, Hải Phòng sở hữu mật độ di tích thờ Ngô Quyền cao nhất cả nước với 36 công trình phân bố trên 28 làng xã. Trong đó, quận Hải An chiếm vị trí áp đảo với 18 làng xã, tương đương 64,3% tổng số làng thờ toàn thành phố, tiêu biểu là Từ Lương Xâm (Từ Cả) giữ vai trò trung tâm chỉ huy nghi lễ cho toàn vùng.

Thứ hai, không gian phân bố tín ngưỡng có sự biến động rõ nét qua các thời kỳ. So với 37 làng xã ghi nhận trong thư tịch thế kỷ XIX, số lượng làng phụng thờ hiện nay giảm 24,3% (còn 28 làng). Sự sụt giảm này phản ánh tác động của chiến tranh khiến di tích bị phá hủy tại 4 làng như Đông An, Vạn Mỹ, Xâm Đồng, Định Vũ hoặc do biến đổi cơ cấu cư dân tại 3 làng như Hạ Lý, An Biên, Phú Xá.

Thứ ba, cấu trúc thần điện có sự phân tầng và tích hợp linh hoạt. Ngô Quyền luôn giữ vị trí độc tôn tại trung tâm hậu cung, bên cạnh đó có sự phối thờ cùng các tướng lĩnh trực tiếp tham gia trận đánh năm 938 như Đào Nhuận, Nguyễn Tất Tố tại đình Gia Viên, hay phối thờ các danh nhân thời kỳ sau như Thái phó Mạc Đăng Dung, danh tướng Phạm Tử Nghi tại đình Phương Lưu và Lương Khê.

Thứ tư, tính quy chuẩn và liên kết trong hoạt động lễ hội được duy trì chặt chẽ. Có 24 trên tổng số 28 làng xã (chiếm tỷ lệ 85,7%) tổ chức lễ hội chính vào dịp kỷ niệm ngày hóa của Ngô Vương (ngày 18 tháng Giêng âm lịch), với lịch trình mở hội luân phiên từ ngày 10 đến ngày 18 tháng Giêng để phục vụ nghi thức rước kiệu hợp tế liên làng về Từ Lương Xâm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến tính đặc thù của tín ngưỡng xuất phát từ vị trí địa văn hóa quân sự của Hải Phòng thế kỷ X. Các làng ven sông Cấm và sông Bạch Đằng vốn là các căn cứ hậu cần, nơi đóng đại bản doanh và tuyển mộ binh lính của Ngô Quyền. Sự hiện diện của 24 ngôi đình (chiếm 68,6%), 9 ngôi miếu (chiếm 25,7%), 1 ngôi từ và 1 ngôi chùa trong hệ thống 35 công trình nội thành cho thấy tín ngưỡng đã hòa tan hoàn toàn vào thiết chế Thành hoàng làng truyền thống.

Dữ liệu phân bố không gian có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cơ cấu di tích theo địa bàn hành chính: quận Hải An chiếm tỷ trọng cao nhất với 64,3%, cụm quận Ngô Quyền và Lê Chân chiếm khoảng 21,4%, quận Hồng Bàng chiếm 3,6%, còn lại nằm rải rác tại các quận lân cận. So sánh với tín ngưỡng thờ Nữ tướng Lê Chân tại quận Lê Chân hay thờ Đức Thánh Trần tại huyện Thủy Nguyên, tín ngưỡng thờ Ngô Quyền mang tính bao trùm và thể hiện rõ nét chức năng cố kết cộng đồng liên làng, đóng vai trò như một vị chủ thần trong tâm thức văn hóa dân gian của người dân đất Cảng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể và vật thể của tín ngưỡng thờ Ngô Quyền, các giải pháp mang tính khả thi cao cần được triển khai đồng bộ:

Tiến hành tu bổ, gia cố và bảo tồn khẩn cấp 100% trong số 36 công trình thờ tự Ngô Quyền hiện hữu trước năm 2030. Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hải Phòng cần chủ trì lập hồ sơ kỹ thuật, ưu tiên nguồn vốn trùng tu cho các di tích kiến trúc nghệ thuật bằng gỗ cổ truyền đang xuống cấp như đình Lũng Bắc, đình Hàng Kênh và Từ Lương Xâm.

Phục dựng các hèm tục chiến trận truyền thống trong các kỳ lễ hội làng giai đoạn 2026-2028. Ủy ban nhân dân quận Hải An cùng các ban khánh tiết địa phương cần nghiên cứu khôi phục điệu múa roi diễn trận tại thôn Trung Hành và điệu múa kiếm phỏng thế trận Bạch Đằng tại thôn Hạ Đoạn để tái hiện hào khí chiến thắng năm 938.

Xây dựng và thương mại hóa tuyến du lịch di sản văn hóa tâm linh "Dấu ấn Bạch Đằng giang". Sở Du lịch thành phố Hải Phòng cần phối hợp với các công ty lữ hành kết nối chuỗi 9 di tích tiêu biểu gồm Từ Lương Xâm, đền Gia Viên, đình Hàng Kênh và quần thể danh thắng Tràng Kênh, đặt mục tiêu thu hút mức tăng trưởng 25% lượng du khách trong nước và quốc tế mỗi năm.

Triển khai chương trình số hóa toàn diện 100% kho tư liệu Hán Nôm gồm 39 đạo sắc phong cổ và bản thần tích gốc năm 1572 trong vòng 24 tháng tới. Bảo tàng thành phố Hải Phòng và Viện Nghiên cứu Hán Nôm cần phối hợp xuất bản ấn bản điện tử để phục vụ công tác tra cứu học thuật và giáo dục lịch sử địa phương cho học sinh, sinh viên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa dân gian: Cung cấp nguồn sử liệu điền dã xác thực về 28 làng xã thờ Ngô Quyền và hệ thống ngọc phả thế kỷ XVI, hỗ trợ đắc lực cho các công trình nghiên cứu về lịch sử quân sự, thiết chế làng xã thời trung đại và quá trình chuyển hóa thần linh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Cán bộ quản lý di sản và văn hóa đô thị: Cung cấp bức tranh hiện trạng chuẩn xác của 36 di tích tại 7 quận nội thành, hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch không gian bảo tồn di tích gắn với quy hoạch phát triển đô thị Hải Phòng tầm nhìn dài hạn.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lịch sử, Văn hóa học, Nhân học: Tài liệu mang lại phương pháp tiếp cận mẫu mực về kỹ năng kết hợp tư liệu thư tịch cổ với khảo sát thực địa, kỹ thuật phỏng vấn sâu nhân chứng và phương pháp bóc tách lớp lang văn hóa tín ngưỡng địa phương.

Ban quản lý di tích và cộng đồng cư dân các làng xã: Giúp các ban khánh tiết nắm vững nguồn gốc thần tích, quy chuẩn bài trí thần điện và phương thức tổ chức lễ hội liên làng đúng với nghi thức cổ truyền, gia tăng tinh thần tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ di sản quê hương.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Hải Phòng lại là địa phương có số lượng làng thờ Ngô Quyền nhiều nhất cả nước?

Khu vực ven sông Cấm và sông Bạch Đằng thuộc Hải Phòng xưa là nơi Ngô Quyền chọn lập đại bản doanh tại làng Lương Xâm và Gia Viên để chuẩn bị cho trận thủy chiến năm 938. Nhân dân các làng xã địa phương đã trực tiếp tham gia đắp thành, chặt gỗ vót cọc, cung cấp lương thảo và chỉ huy chiến thuyền. Công lao gắn bó mật thiết trong cuộc chiến lịch sử đã khiến nhân dân nơi đây tôn vinh và lập đền thờ ông qua nhiều thế hệ.

Bản thần tích ngọc phả về Ngô Quyền tại Hải Phòng có nguồn gốc xuất xứ như thế nào?

Căn cứ vào khảo cứu văn bản học, bản thần tích gốc có tên Tiền Ngô Vương thiên tử ngọc phả lục do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn thảo năm 1572 tại làng Gia Viên (nay thuộc phố Cấm, quận Ngô Quyền). Hầu hết bản ngọc phả tại các di tích khác như Từ Lương Xâm đều là các bản sao chép hoặc dị bản kế thừa trực tiếp từ nguồn thư tịch gốc của làng Gia Viên.

Hiện tượng phối thờ các vị thần khác cùng Ngô Quyền diễn ra như thế nào trong thần điện?

Tại 36 công trình thờ tự, Ngô Quyền luôn được an vị ở vị trí trung tâm cao nhất trong hậu cung. Tùy từng làng xã, ông được thờ phối cùng con trai là Ngô Xương Ngập, các tướng lĩnh có công năm 938 như Đào Nhuận, Nguyễn Tất Tố, hoặc phối thờ các vị nhân thần có sức ảnh hưởng lớn tại địa phương ở giai đoạn lịch sử sau này như danh tướng Phạm Tử Nghi và tướng quân Đoàn Thượng.

Nguyên nhân nào làm suy giảm số lượng làng thờ Ngô Quyền từ 37 làng xuống còn 28 làng?

Sự sụt giảm khoảng 24,3% số lượng làng xã phụng thờ bắt nguồn từ hai yếu tố chính: sự tàn phá của các cuộc chiến tranh làm mất hoàn toàn công trình đình, miếu mà chưa thể phục dựng (như tại làng Đông An, Vạn Mỹ), và sự biến động di dân, thay đổi cấu trúc cư dân khiến cộng đồng dân cư mới rước vị thần bản quán khác về thờ tự (như trường hợp làng Hạ Lý).

Lễ hội thờ Ngô Quyền tại Hải Phòng mang những nét nghi lễ đặc trưng nổi bật nào?

Nét đặc sắc nhất là nghi thức rước kiệu giao hiếu và hợp tế quy mô lớn giữa các làng xã về Từ Lương Xâm (Từ Cả) vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Bên cạnh phần lễ trang nghiêm, lễ hội xưa còn gắn liền với các hèm tục chiến trận độc đáo như múa roi tại thôn Trung Hành và múa kiếm tại thôn Hạ Đoạn nhằm tái hiện sinh động khí thế xung trận diệt quân Nam Hán năm 938.

Kết luận

Luận văn đã phác thảo toàn diện bức tranh lịch sử, văn hóa và thực trạng tín ngưỡng thờ Ngô Quyền tại thành phố Hải Phòng với năm kết luận trọng tâm:

  • Tín ngưỡng thờ Ngô Quyền tại Hải Phòng là sản phẩm kết tinh giữa sự tri ân công đức anh hùng dân tộc năm 938 với thiết chế văn hóa Thành hoàng làng truyền thống.
  • Hải Phòng khẳng định vị thế trung tâm tín ngưỡng phụng thờ Ngô Vương lớn nhất cả nước với 36 di tích phân bố tại 28 làng xã hiện còn hoạt động tế tự.
  • Hệ thống thần tích, thần sắc ghi nhận sự định hình văn bản từ bản ngọc phả năm 1572 và các đợt sắc phong quy mô lớn dưới triều Nguyễn các năm 1853 và 1880.
  • Không gian tín ngưỡng trải qua biến thiên thu hẹp 24,3% số làng xã do tác động của chiến tranh, đô thị hóa và dịch chuyển dân cư từ cuối thế kỷ XIX đến nay.
  • Lễ hội Ngô Vương duy trì bền bỉ vai trò cố kết cộng đồng sâu sắc thông qua tục hợp tế liên làng hướng về trung tâm Từ Lương Xâm.

Công trình đóng góp một hệ thống cứ liệu khoa học chuẩn xác, phân tích đa chiều về sự thích ứng của tín ngưỡng dân gian trong lòng đô thị công nghiệp cảng biển. Trong giai đoạn 2026-2030, việc mở rộng nghiên cứu sang các huyện ngoại thành lân cận là bước đi cần thiết. Các cơ quan quản lý văn hóa và cộng đồng địa phương cần chung tay thực thi các giải pháp bảo tồn cấp bách, phát huy giá trị di sản tinh thần vô giá mà vị tổ trung hưng của dân tộc đã để lại cho vùng đất Hải Phòng.