Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM 1. Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian 1. Tín ngưỡng Tín ngưỡng tương ứng với thuật ngữ trong tiếng Anh là belief, failth còn xét về mặt chiết tự Hán ngữ: tín là tin, niềm tin; ngưỡng là nhìn lên. Theo đó, tín ngưỡng là tin tưởng, ngưỡng mộ những điều cao siêu, có sức mạnh tác động đến cuộc sống.
Theo nguyên nghĩa, tín ngưỡng là sự tin vào một điều gì đó (croyance). Trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng thường được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần thánh. Theo cách hiểu này, khái niệm tín ngưỡng bao gồm việc tin theo các tôn giáo và các hình thức tín ngưỡng khác. Trong đó, niềm tin, sự ngưỡng vọng vào lực lượng siêu nhiên là dấu hiệu cơ bản.
Khi tín ngưỡng được hiểu là niềm tin tôn giáo thì cốt lõi của niềm tin đó chính là tư tưởng của mỗi tôn giáo, từ đó mà hình thành thiết chế tôn giáo, con người tôn giáo. Đối với người có tín ngưỡng, lực lượng siêu nhiên được xem là có thật, họ tin, tôn thờ và sùng bái lực lượng siêu nhiên ấy. [78, tr21] Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học quan niệm: “Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng một lực lượng siêu nhiên, tôn sùng vào một điều gì đó pha chút thần bí, hư ảo, vô hình, tác động mạnh mẽ đến tâm linh con người, trong đó bao hàm cả niềm tin tôn giáo”. Theo cách hiểu này, tín ngưỡng là khái niệm rộng hơn tôn giáo, tín ngưỡng bao hàm cả tôn giáo.
Nguyễn Đăng Duy cũng có một khái niệm rất cụ thể, rõ ràng về tín ngưỡng: “Tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống, cộng đồng, con người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người ấy tin theo, tôn thờ lễ bái, cầu download by : skknchat@gmail.com 16 mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [13, tr73]. Theo cách hiểu này, tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử- xã hội, thuộc về đời sống tâm linh của cá nhân nhưng lại mang tính cộng đồng, tồn tại theo xu hướng chung, theo nếp nghĩ chung của cộng đồng. Tác giả Ngô Đức Thịnh trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam có quan niệm: “Tín ngưỡng là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thể. Tác giả quan niệm đặc trưng tín ngưỡng gắn với các trình độ phát triển xã hội cụ thể.
Ở các thời kì khác nhau, hình thức tín ngưỡng cũng khác nhau. Như vậy, từ các quan điểm trên có thể đưa ra một cách hiểu chung về tín ngưỡng đó là: Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm. Tín ngưỡng là một thành tố của văn hóa tổ chức cộng đồng, thuộc phạm vi đời sống cá nhân, được hình thành tự phát nhưng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng không chỉ giới hạn ở lòng ngưỡng mộ và niềm tin tôn giáo mà tín ngưỡng còn thể hiện ở phạm vi khá rộng trong đời sống tinh thần của con người.
Bởi trong thực tế, nhiều người không theo tôn giáo nào cả nhưng họ vẫn có niềm tin vào đấng thiêng liêng, cao cả, những đấng linh thiêng, thần bí. Trên cơ sở tín ngưỡng từ quan niệm sùng bái tự nhiên và sùng bái con người, người Việt có những tín ngưỡng dân gian rất phong phú ngoài tín ngưỡng tôn giáo. Nói đến tín ngưỡng dân gian tất nhiên có nhiều điều mâu thuẫn và huyền hoặc. Khoa học hiện đại cho rằng: những dạng thức sinh hoạt tâm linh, tuy có nội dung tôn giáo song chưa đạt tới trình độ của một tôn giáo – Người ta thường gọi download by : skknchat@gmail.com 17 là tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ các thần linh khác đang tồn tại ở Việt Nam.
Như vậy, tín ngưỡng dân gian là các hình thức tín ngưỡng chưa đạt đến trình độ cấu thành các tôn giáo. Tín ngưỡng dân gian tiêu biểu như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ thánh - thần, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu. Nếu như trong các yếu tố hợp thành cấu trúc tôn giáo thường chặt chẽ và thống nhất, xuyên thời gian, không gian thì cấu trúc của tín ngưỡng dân gian lại linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo để phù hợp với cuộc sống thực tế của mỗi người, mỗi gia đình, dân tộc. Về cơ bản, tín ngưỡng dân gian do nhân dân lao động sáng tạo ra nên nó mang tính phổ cập, đại chúng chứ không có tính hệ thống, không mang tính triết lý nhân sinh hoàn chỉnh như tôn giáo.
Tín ngưỡng dân gian cũng có những chức năng tương ứng như của tôn giáo đó là: Chức năng đền bù hư ảo; chức năng giáo dục, định hướng giá trị, đánh giá, xác định chuẩn mực ứng xử của con người; chức năng giao tiếp; chức năng tổ chức xã hội, điều chỉnh mối quan hệ cộng đồng trong phạm vi và trên lĩnh vực tương ứng. Với các chức năng này, tín ngưỡng dân gian có vai trò góp phần cải tạo xã hội theo chiều hướng này hay chiều hướng kia. Nó cũng là vũ khí đấu tranh với cái ác, có vai trò tích cực không thể phủ nhận. Đối với mỗi người, vai trò của tín ngưỡng dân gian còn phụ thuộc ở sự từng trải và kinh nghiệm của bản thân.
Trong đời sống, nếu tín ngưỡng dân gian bị quá lạm dụng thì đều có thể chuyển thành tiêu cực mà rõ nét nhất là dẫn đến nhận thức và các hành vi mê tín dị đoan. Phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong bài viết Tín ngưỡng và giải mã tín ngưỡng trong văn học dân gian người Việt [18], khái niệm tín ngưỡng và tôn download by : skknchat@gmail.com 18 giáo có nhiều chỗ gần gũi với nhau vì nó cùng có nguồn gốc từ lòng tin tuyệt đối vào một đấng cao siêu huyền bí nào đó, nhưng chúng cũng có nhiều điểm khác nhau. Tôn giáo với tư cách một giáo lí, giáo pháp chính là sự phát triển một tín ngưỡng, được cộng đồng thể chế, quy phạm hoá cao độ. Mỗi tôn giáo cần có: Một hệ thống giáo lí; Một vị giáo chủ đứng đầu (Chúa Trời, đức Phật Thích Ca, Lão Tử); Một hệ thống thể chế, nghi lễ thờ tự và nơi thờ tự; Một hệ thống tổ chức gồm giáo luật nghiêm chỉnh, giáo hội với các tín đồ.
Tôn giáo dân gian không hẳn là tôn giáo với những thể cách trên, nó chủ yếu mới là sự sùng tín, nó nằm trong tâm thức của con người trong sinh hoạt dân dã và được biểu hiện ra chủ yếu trong phong tục tập quán sinh hoạt chứ chưa được thể chế hóa hay trở thành giáo luật. Các nhà nghiên cứu thường gọi chung đối tượng này là tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian hoặc đôi khi cũng dùng khái niệm tôn giáo dân gian. Khái niệm tín ngưỡng vì vậy rộng rãi hơn và dân dã hơn khái niệm tôn giáo. Như vậy, tôn giáo và tín ngưỡng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Trong đó, tín ngưỡng là phạm trù rộng hơn, bao hàm cả tôn giáo. Tôn giáo là sự phát triển mức độ cao của tín ngưỡng. Có những hình thái được xếp vào ranh giới giữa tôn giáo và tín ngưỡng. Tôn giáo (religion) và tín ngưỡng (bebief) thường hay đi kèm với nhau khiến nhiều khi người ta hay đồng nhất hai khái niệm này mặc dù giữa chúng luôn tồn tại một ranh giới nhất định.
Cơ sở của mọi tôn giáo hay tín ngưỡng đều dựa trên niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên hay nói một cách khác đó là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào cái thiêng. Cái thiêng ở đây được hiểu là đối lập với cái trần tục, những thứ hiện hữu mà ta có thể nhìn thấy, có thể chạm vào. Niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng loài người. Phân loại tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian Người ta đã từng đưa ra các cách phân loại khác nhau như phân loại tín download by : skknchat@gmail.com 19 ngưỡng theo các hình thức phát triển khác nhau của tiến trình lịch sử.
Một số khác lại từ bỏ nguyên tắc lịch sử mà đi vào đặc trưng địa lý và chủng tộc; theo các khu vực văn hóa; theo nội dung tín ngưỡng, tôn giáo và đối tượng sùng bái; theo hình thái học của tôn giáo, tín ngưỡng… Mỗi cách phân loại như vậy đều chứa đựng những hạt nhân hợp lý tuy nhiên cũng không tránh khỏi sự phiến diện và nhiều lúc cực đoan. Việc phân loại tín ngưỡng được các nhà nghiên cứu dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, tùy thuộc vào tính chất vốn có của mỗi loại hình tín ngưỡng và nhu cầu, mục đích của chủ thể nghiên cứu. - Nếu dựa vào đối tượng tham gia tín ngưỡng và không gian thực hiện thì có các loại hình tín ngưỡng sau: Tín ngưỡng cộng đồng, tín ngưỡng trong dòng họ, tín ngưỡng trong gia đình, tín ngưỡng của cá nhân. - Dựa trên tiêu chí hình thái học gồm các hình thức tín ngưỡng sau: Thờ cúng tổ tiên; Tín ngưỡng cá nhân (vòng đời người); Tín ngưỡng nghề nghiệp; Tín ngưỡng thờ thần.
- Dựa theo sức mạnh, vai trò các vị thần có thể chia thành: tín ngưỡng thờ cúng trong gia đình (thần bình dân); tín ngưỡng thờ cúng ngoài cộng đồng (thần quan trọng). Sự phân loại này có lẽ phải bàn thêm song nó đã bàn đến góc độ mối quan hệ giữa người và Thần – Thánh có các cấp độ khác nhau, từ tình cảm, lòng tin đến sự ngưỡng mộ. - Dựa vào đối tượng là các vị thần – thánh được thờ cúng thì có: Tín ngưỡng thần linh và tín ngưỡng thánh nhân. - Dựa vào chức năng, vai trò của tín ngưỡng với con người – xã hội: tín ngưỡng thánh nhân định hướng nhân cách, tâm lý cộng đồng; tín ngưỡng thần linh thể hiện ước vọng, cầu mong và tâm lý cộng đồng.
download by : skknchat@gmail. Đặc trưng tín ngưỡng dân gian Việt Nam 1. Cơ sở hình thành đặc trưng tín ngưỡng dân gian Việt Nam Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên phong phú. Thời xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên nên việc thờ cúng các vị thần tự nhiên đã sớm gần gũi với họ.