phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận Chƣơng 2: Đặc điểm ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mỹ về màu sắc trong ca dao ngƣời Việt Chƣơng 3: Giá trị biểu đạt của tín hiệu thẩm mỹ về màu sắc trong ca dao ngƣời Việt 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Từ và ngữ tiếng Việt 1. Từ Từ là đơn vị của ngôn ngữ, có vai trò hết sức quan trọng đối với ngôn ngữ. Khái niệm về từ đã đƣợc các nhà nghiên cứu ngôn ngữ bàn luận nhiều trong suốt quá trình lịch sử của ngôn ngữ học.
Họ đều thống nhất cho rằng: từ là đơn vị trung tâm, cơ bản của ngôn ngữ. Bởi vì nó là cơ sở trực tiếp tạo nên chuỗi lời nói. Từ trƣớc nay có hơn 300 định nghĩa về từ nói chung. Song cho đến nay vẫn chƣa có khái niệm nào thỏa mãn đối với các nhà ngôn ngữ.
Bởi hiện nay có khoảng 6000 ngôn ngữ đang đƣợc sử dụng trên thế giới. Mỗi ngôn ngữ khác nhau thì hình thức ngữ âm, ngữ pháp của từ có thể khác nhau. Vì vậy, phƣơng châm đúng đắn nhất trong việc đi tìm một khái niệm về từ là một mặt phải chú ý tới những điểm đồng nhất, chú ý tới tính phổ quát, từ đa dạng về thuộc tính nhƣng vẫn có thể tìm thấy những thuộc tính bản chất chung cho từ trong mọi ngôn ngữ. Mặt khác, cũng cần phải chú ý tới những đặc điểm riêng của từ trong mỗi ngôn ngữ.
Ta có thể đƣa ra một số định nghĩa về từ của một số tác giả tiêu biểu nhƣ sau: A.Mây-Yê: Từ là sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp âm nhất định. Có khả năng đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định [22, tr.Admoni: Từ là đơn vị ngữ pháp do hình vị cấu tạo nên dùng để biểu thị đối tƣợng, quá trình, tính chất và những mối quan hệ trong hiện thực, có tính đặc thù rõ rệt và có khả năng kiến lập nhiều mối quan hệ đa dạng với nhau [22, tr.Solneev: Từ là đơn vị ngôn ngữ có tính hai mặt: âm và nghĩa. Có khả năng độc lập về cú pháp khi sử dụng trong lời nói [22, tr. Có thể nói các nhà ngôn ngữ đã đƣa ra nhiều nhận định khác nhau về từ nhƣng điểm thống nhất của các nhà nghiên cứu đó là: hình thức ngữ âm và ý nghĩa, có tính sẵn có, cố định và bắt buộc, là đơn vị thƣc tại, hiển nhiên của ngôn ngữ, đơn vị trực tiếp tạo câu, nhỏ nhất trong câu.
Khi nghiên cứu về từ tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ đã chỉ ra rằng: bên cạnh đặc điểm chung của từ thì từ tiếng Việt còn có đặc điểm riêng. Trƣớc tiên về khối lƣợng phong phú, đa dạng (khoảng hàng vạn từ), diễn tả mọi sắc thái, nội dung của những ngƣời dùng chung thứ tiếng Việt. Giống nhƣ ngôn ngữ khác thì từ tiếng Việt dùng gọi tên: đặc điểm, tính chất, trạng thái,… về thực tế khách quan. Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra định nghĩa về từ tiếng Việt: Hồ Lê: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực 11 hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa [22, tr.
Theo Hoàng Phê cùng nhóm tác giả cuốn “ Từ điển tiếng Việt” : “Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định để đặt câu” [37, tr. Đỗ Hữu Châu: Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [9, tr. Đỗ Thị Kim Liên: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và đƣợc vận dụng tự do để cấu tạo nên câu [23, tr. Nhƣ vậy, có thể có nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ tiếng Việt, xuất phát từ những góc độ, những quan điểm khác nhau.
Nhƣng tựu trung lại, các nhà nghiên cứu đều đƣa ra đƣợc những đặc điểm cơ bản của từ. Trong bài viết của mình, chúng tôi sử dụng quan niệm của Đỗ Thị Kim Liên làm cơ sở để khảo sát. Ngữ Khi nói, viết, chúng ta thƣờng sử dụng đơn vị thông báo ở cấp độ câu. Để tạo nên câu cần có từ.
Các từ thƣờng sắp xếp theo những quan hệ nào đó để tạo nên đơn vị lớn hơn từ, đó là ngữ. Ngữ đƣợc gọi bằng một số tên gọi khác nhau, xuất phát từ những quan niệm và mục đích nghiên cứu không giống nhau: đoản ngữ (Nguyễn Tài Cẩn), cụm từ (Lê Xuân Thại), ngữ đoạn (Lƣu Vân Lăng), từ tố (Nguyễn Kim Thản). Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Tài Cẩn viết: “Kết hợp tiếng với tiếng chúng ta sẽ đƣợc những loại đơn vị ngữ pháp cao hơn, gọi chung là tổ hợp” [3, tr. Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Đỗ Thị Kim Liên cũng đã nêu khái niệm “Cụm từ là cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định” [23, tr.
Nhƣ vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu. Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ. Xét về mặt nghĩa, ngữ là một cấu tạo có tác dụng làm cho nghĩa của chính tố đƣợc thực tại hóa, tức là có liên hệ với thực tại. Trong ngữ danh từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính xác định.
Trong ngữ động từ, ngữ tính từ, nghĩa thực tại hóa là nghĩa về tính hoạt động và tình thái. Xét về mặt ngữ pháp, ngữ là một cấu tạo theo quan hệ cú pháp chính phụ. Phƣơng tiện để biểu thị quan hệ chính phụ là trật tự, kết từ và ngữ điệu. 12 Theo Đỗ Thị Kim Liên, ngữ cũng là một dạng cụm từ và tác giả cho rằng có các loại cụm từ sau: - Cụm từ đẳng lập: có hai thành phần không phụ thuộc vào nhau, cùng giữ một chức vụ ngữ pháp…Ví dụ: Cha và mẹ/ đều đi vắng: Cụm từ “cha và mẹ” cùng làm chức năng chủ ngữ.
- Cụm từ chủ vị: có hai thành phần chủ vị tác động qua lại lẫn nhau và cùng mang ý nghĩa tƣờng thuật. Ví dụ: Anh đến /làm tôi vui. Câu này có 2 cụm từ: anh - đến, tôi - vui. - Cụm chính phụ: gồm một thực từ làm hạt nhân và những thành tố phụ bao quanh hạt nhân.
Theo chúng tôi, thực ra thì cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ đều là cụm chính phụ. Cụm danh từ thì danh từ là từ hạt nhân, cụm động từ thì động từ làm hạt nhân và cụm tính từ thì tính từ làm hạt nhân. Tuy nhiên, cụm từ và ngữ có cấu tạo khác nhau, cụm từ thƣờng chỉ có một tổ hợp từ ba từ đến sáu từ còn ngữ có thể có cấu trúc nhiều yếu tố phụ trƣớc và sau. Thành ngữ là một loại cụm từ cố định nhƣng chức năng ngữ nghĩa nhƣ từ.
Các kiểu từ tiếng Việt Nguyên tắc phân loại từ về mặt cấu tạo ngữ pháp, chúng tôi căn cứ theo nguyên tắc phân loại của Đỗ Thị Kim Liên. Dựa vào số lƣợng hình vị, có thể chia từ tiếng Việt thành từ đơn và từ phức: - Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên: xanh, đỏ, tím, vàng… - Từ phức là những từ bao gồm hai hình vị trở lên: trắng tinh, xanh lè, đỏ hoe, vàng khè… Dựa vào phƣơng thức cấu tạo từ, có thể chia từ phức thành từ ghép và từ láy: - Từ ghép là những từ đƣợc tạo thành bằng cách ghép hai hoặc hơn hai hình vị theo một kiểu quan hệ từ pháp nhất định: vàng tƣơi, xanh biếc… Từ ghép gồm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. Từ ghép đẳng lập thƣờng gồm hai hình vị (loại ba hình vị có số lƣợng hạn chế), có vai trò tƣơng đƣơng nhau, không phụ thuộc nhau, cùng tạo thành một kết hợp mang nghĩa khái quát, khác nghĩa từng thành tố: đen trắng, đỏ đen, xanh đỏ…Từ ghép chính phụ gồm một hình vị mang nghĩa tổng loại chung (về sự vật, hoạt động, thuộc tính) và một hoặc một số hình vị đứng sau có tác dụng phân hóa nghĩa: trắng bạch, vàng lục, đen xám… - Từ láy là những từ đƣợc cấu tạo dựa trên phƣơng thức láy ngữ âm: xanh xanh, tim tím, trăng trắng, vàng vàng… Chúng tôi căn cứ vào cách phân loại các kiểu từ trên để khảo sát các kiểu từ chỉ màu sắc trong ca dao ngƣời Việt. Từ loại Tiếng Việt Từ loại là một địa hạt quan trọng của ngữ pháp nói chung và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng.
Từ loại là những lớp hạng ngữ pháp cơ bản của từ, trong đó vốn từ của một ngôn ngữ đƣợc phân bố căn cứ vào ý nghĩa khái quát và đặc điểm hình thức chung. Việc phân định từ Tiếng Việt dựa vào ba tiêu chí sau: Thứ nhất, dựa vào ý nghĩa khái quát. Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của hàng loạt từ trên cơ sở khái quát hóa từ vựng thành khái quát hóa phạm trù ngữ pháp chung. Ví dụ: - sách, vở, sinh viên, giáo viên… mang ý nghĩa sự vật.
- đọc, nói, viết, ăn, uống… mang ý nghĩa hoạt động. Thứ hai, dựa vào khả năng kết hợp. Với ý nghĩa khái quát, các từ có khả năng tham gia vào một kết hợp có nghĩa. Ở mỗi vị trí của kết hợp có thể xuất hiện những từ có khả năng lần lƣợt thay thế nhau.
Trong khi đó, ở các vị trí khác trong kết hợp, các từ còn lại tạo ra bối cảnh cho sự xuất hiện khả năng thay thế của những từ nói trên. Những từ cùng xuất hiện trong một bối cảnh có khả năng thay thế cho nhau ở cùng một vị trí, có tính chất thƣờng xuyên, đƣợc tập hợp thành một lớp từ loại. Các từ tạo ra bối cảnh thƣờng xuyên cho những từ có thể thay thế nhau ở vị trí nhất định đƣợc gọi là từ chứng. Khả năng kết hợp của từ trong các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập là sự phân bố trật tự và việc sử dụng các phụ từ để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp ra bên ngoài.
Ví dụ: Những, các, mọi / giáo viên / ấy.