Chương 1: Những vấn đề chung - Chương 2: Biểu hiện hình thức của các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên - Chương 3: Biểu hiện ý nghĩa của các tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Chế Lan Viên 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái niệm tín hiệu Trong thực tế cuộc sống của mình, loài người đã phát hiện, làm quen, xây dựng và sử dụng nhiều kiểu loại tín hiệu (TH) khác nhau như: âm thanh, hệ thống đèn hay biển báo (giao thông), các kí hiệu (toán học, vật lí học),… để đại diện, ám chỉ, báo hiệu cho một thông tin nào đó vốn đã được cộng đồng ngầm quy ước, thừa nhận với nhau. Đó là cách ta dùng “một cái gì đó” làm TH thay thế cho đối tượng cụ thể hay một khái niệm trừu tượng. Trên cơ sở ra đời ấy của TH, đã có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm TH.
Khái niệm TH được nhắc đến lần đầu tiên trong học thuyết tín hiệu ngôn ngữ của de Saussure. Theo ông, TH có hai mặt, bao gồm cái biểu đạt (cbđ – hình thức vật chất cảm tính) và cái được biểu đạt (cđbđ – nội dung ý nghĩa). Hai mặt này gắn bó khắng khít với nhau và đã có cái này là có cái kia [7, tr. Sau này, Ch.Pierce đã đưa thêm vào cấu trúc nhị diện nhân tố thứ ba là cái lí giải (interpretant) [8, tr.
Nhưng phải đến khi Ch.Morris hệ thống hóa và xây dựng một lí thuyết tổng quát về TH thì ba chiều của TH mới thực sự có nghĩa trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đặc biệt với ngành tín hiệu học [8, tr.Morris cũng như Ch.Pierce chia ra ba chiều của TH ngôn ngữ: thứ nhất là chiều kết học nghiên cứu các TH trong mối quan hệ với các TH khác, thứ hai là chiều nghĩa học nghiên cứu các TH trong mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống TH, thứ ba là chiều dụng học nghiên cứu các TH trong những mối quan hệ với người sử dụng nó.Guiraud: Một TH…là một kích thích mà tác dụng của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác [8, tr. Đây là một quan niệm rộng bởi TH được hiểu bao gồm cả những TH hiểu theo nghĩa hẹp, cả những TH “nhận biết” và TH “giao tiếp” có tính chất bản năng của loài vật. Vì thế, một đám mây đen báo hiệu trời sắp mưa, đám khói bay lên cho biết ở đó có lửa, dấu chân người trên cát chứng tỏ có người vừa đi qua…đều có khả năng trở thành TH.Shaff định nghĩa TH theo nghĩa hẹp: Một vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành TH nếu như trong quá trình giao tiếp, 10 nó được nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm [8, tr.Schaff chỉ thừa nhận là TH khi nó mang chức năng giao tiếp, được con người sử dụng nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình trong đời sống. Dù TH được hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng thì các ý kiến đều được thống nhất cho rằng TH là khái niệm quan hệ, không phải là khái niệm tự thân, muốn một cái gì đó trở thành TH thì nó phải nằm trong một hệ thống nhất định và có mối quan hệ với các sự vật khác.
Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi lấy định nghĩa rộng của F.Guiraud làm xuất phát điểm bởi vì nó các tác dụng phát hiện ra những đặc trưng TH của các TH ngôn ngữ. Như vậy, một sự vật muốn trở thành TH phải thỏa mãn các điều kiện sau đây: - TH phải có tính vật chất. Vật chất là một sự vật hoặc một thuộc tính vật chất như ánh sáng, màu sắc, âm thanh, vật thể…Nghĩa là, người ta có thể tri nhận được chúng bằng các giác quan. Cho nên các thuộc tính vật chất ấy của TH phải có khả năng kích thích vào các giác quan của con người và được con người cảm nhận, đáp ứng quá trình phát sinh TH và tiếp nhận TH.
Khác với TH của loài vật, vốn là quá trình tiếp nhận theo hướng phản xạ có điều kiện, quá trình tiếp nhận TH của con người là quá trình tiếp nhận có ý thức, cấp cao. - TH phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó. Nói cách khác, TH phải mang nghĩa “được gán”, “được quy ước” khác với bản thân ý nghĩa vật chất của nó. Định nghĩa của Guiraud cũng đã chỉ rõ: Ý nghĩa của cái chỉ ra trong TH bao giờ cùng là một thực thể tâm lí thuộc tinh thần.
Chẳng hạn, hệ thống đèn giao thông màu đỏ, màu vàng, màu xanh đóng vai trò là cbđ. Nó mang chức năng gợi ra ý nghĩa về mặt tinh thần, cụ thể là truyền tải nội dung “đứng lại”, “chuẩn bị”, “được phép đi”. - TH phải được chủ thể tiếp nhận và lí giải được. Nói rõ hơn là chủ thể tiếp nhận phải có năng lực tri thức và lĩnh hội được mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ của TH.
Muốn thế, quan hệ giữa lớp vỏ vật chất của TH và nội dung của TH phải dựa trên quy ước có ý thức của con người hoặc cộng đồng, xã hội được con người duy trì sự thừa nhận, tri thức và lĩnh hội như một điều tất yếu. Ví dụ 1: Một hồi chuông dài đối với học sinh là báo hiệu hết giờ học nhưng có thể là TH tập hợp quân đối với các quân binh. 11 Ví dụ 2: Tia sáng lọt qua khe cửa vào phòng của một đứa trẻ sơ sinh chưa phải là TH bởi vì đứa trẻ chưa lí giải được cđbđ từ tia sáng, mặc dù tia sáng vẫn kích thích cảm quan của đứa trẻ và gây được những phản ứng nhất định. Nhưng đối với người lớn, tia sáng là TH bởi vì học có thể rút ra một ý nghĩa nào đó, như “trời sáng”, “sắp đến giờ đi làm”… - TH phải nằm trong một hệ thống nhất định và có đặc điểm khác biệt với các yếu tố khác có cùng hệ thống.
Đây là điều kiện bắt buộc một cách hiển nhiên đối với những TH giao tiếp do con người đặt ra. TH sẽ không còn là TH khi tách khỏi hệ thống, bởi giá trị của nó có được là nhờ vào mối quan hệ của nó với các TH khác trong hệ thống. Mặt khác, một điều kiện hiển nhiên là hệ thống phải là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố, và các yếu tố đó nằm trong quan hệ đối lập nhằm tạo ra giá trị khu biệt của TH trong hệ thống. Phân loại tín hiệu Đã có nhiều nhiều cách phân loại khác nhau đối với TH.
Các nhà nghiên cứu TH học đã phân các TH thành những phạm trù (hay loại) khác nhau.Buhler chia các TH thành: Symbole (TH chỉ ra sự vật, đối tượng), Symptome (TH bộc lộ trong thái tâm sinh lí, tư tưởng, tình cảm của người nói), Signal (TH gây tác động tâm sinh lí cho người nghe [8, tr.Pierce phân chia TH thành ba loại chính: Hình hiệu (icones), chỉ hiệu (index), và ước hiệu (symbol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa cbđ và cđbđ mà F.de Saussure đã đưa ra. Theo đó, đại đa số TH ngôn ngữ là thuộc loại ước hiệu, loại TH mà mối quan hệ giữa cbđ và cđbđ là hoàn toàn võ đoán, không giải thích được nguyên do. Loại TH này sẽ mất tư cách là TH nếu không có người lí giải [8, tr. Morris dựa vào mối quan hệ giữa TH với các loại sự vật mà chúng biểu thị đẻ chia TH thành hai loại: các chỉ hiệu (Single indexes) và định hiệu (Signes caracterisant).
Tiếp theo, ông lại phân chía các định hiệu ra thành hình hiệu và biểu trưng (symbole) [8, tr.Shaff xuất phát từ cơ sử chỉ xem TH gắn liền với chức năng giao tiếp, nên ông tiến hành phân loại như sau: đầu tiên ông phân TH thành TH nhân tạo và TH tự nhiên (TH đích thực). TH tự nhiên lại được chia thành TH từ và TH thực có khả năng bộc lộ nhất định lại được chia thành lệnh hiệu và định hiệu. Các định hiệu lại được chia thành định hiệu đích thực và symbole [8, tr.Guiraud từ năm 1950 đã đưa ra bảng phân loại TH. Ông phân chia TH dựa 12 trên mối quan hệ giữa thực tế với nhận thức của con người.
Trong đó, tác giả quan tâm tới những TH biểu hiện (TH không giao tiếp). Những TH biểu hiện về bản chất là các hình hiệu và chức năng của chúng không phải là công cụ giao tiếp mà là công cụ để phản ánh, miêu tả thực tế khách quan. Ví dụ như: bức ảnh, bản nhạc, tranh vẽ…Chúng là sản phẩm của các loại hình nghệ thuật và thuộc đối tượng nghiên cứu của nghệ thuật học.Guiraud tiếp tục phân chia TH thành TH tự nhiên và TH nhân tạo. Trong TH nhân tạo ông lại phân chia thành TH giao tiếp và TH không giao tiếp.
Ông còn dựa theo đặc tính thể chất của TH mà phân chia các TH thành TH thị giác, TH thính giác, TH xúc giác. Theo đặc tính chuyển mã hay chưa chuyển mã, ông chia các TH thành TH thứ cấp (còn gọi là kí hiệu) và TH sơ cấp…F.Guiraud cũng chỉ ra sự xâm nhập lẫn nhau của các loại TH [8, tr.714] Đỗ Hữu Châu cũng đã đưa bảng phân loại TH theo quan điểm riêng của mình. Theo ông, TH là một thực tế đa diện cho nên căn cứ vào các phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loại khác nhau. Mỗi lần vận dụng một tiêu chí phân loại là có một kết quả phân loại.
Những tiêu chí phân loại mà Đỗ Hữu Châu đưa ra là: 1/ Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện, 2/ Dựa vào nguồn gốc của TH, 3/ Dựa vào mối quan hệ giữa cái hiểu hiện và cái được biểu hiện, 4/ Căn cứ vào chức năng xã hội của TH [8, tr. Dựa vào mặt thể chất của TH có thể phân chia ra được các loại TH như: tín hiệu màu sắc, tín hiệu âm thanh…trong đó, TH ngôn ngữ được coi là một loại TH đặc biệt. Tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ cũng là một TH bởi ngôn ngữ đáp ứng đầy đủ các điều kiện của một TH. Trong thực tế giao tiếp, ngôn ngữ bao gồm ba mối quan hệ chính: quan hệ giữa TH với TH, quan hệ giữa TH với thực tế và quan hệ giữa TH với nhân vật giao tiếp.
Ba quan hệ này lập thành ba bình diện tạo nên bản chất của TH ngôn ngữ: kết học, nghĩa học và dụng học. Ba bình diện này luôn được đặt trong mối quan hệ khăng khít với nhau.