CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN Cả văn bản và diễn ngôn đều cần có mạch lạc và liên kết nhưng sự thể hiện của chúng trong mỗi thể loại có mức độ đậm nhạt khác nhau thậm chí đan cài vào nhau. Vì vậy, chúng tôi đi sâu nghiên cứu các vấn đề về liên kết từ các lý thuyết liên quan như lí thuyết về văn bản, diễn ngôn và lí thuyết về mạch lạc. Tuy nhiên, luận văn không đi sâu tìm hiểu tất cả các vấn đề của lí thuyết ấy mà chỉ sử dụng những phần lí luận làm cơ sở cho luận văn như phân biệt sơ lược khái niệm: văn bản — diễn ngôn, liên kết — mạch lạc.
Luận văn sẽ đi sâu khảo sát năm phép liên kết là phép liên kết từ vựng, nối, thế, quy chiếu và tỉnh lược trên bút ký Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, từ đó tìm hiểu vai trò của chúng đối với nội dung – nghệ thuật của tác phẩm và phong cách nhà văn. Khái quát về văn bản 1. Khái niệm văn bản Cùng là sản phẩm của giao tiếp nhưng để phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn là một việc không đơn giản. Nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã mất nhiều công sức để phân tách hai khái niệm này song dường như vẫn không có một đường ranh giới rạch ròi giữa chúng.
Định nghĩa của D. Crystal: “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc một diễn ngôn bằng kí hiệu, được nhận dạng vì những mục đích phân tích. Nó thường là một chính thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích” [Dẫn theo 1, tr. Nguyễn Hòa khẳng định: trong thực tế, rất khó có thể phân biệt rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bàn bởi trong văn bản sẽ có diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có văn bản.
Đinh Văn Đức lại sử dụng thuật ngữ “ngôn bản” để chỉ ra loại sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, còn khái 10 niệm “văn bản” thì chỉ sản phẩm bằng văn tự (chữ viết) cũng nhằm thể hiện sự kiện giao tiếp. Cả hai thuật ngữ này nằm chung trong khái niệm rộng là diễn ngôn. Còn theo nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban, trong thực tế phân tích diễn ngôn hiện nay thì cách hiểu: “văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lí giải được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh, diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích là cách hiểu được coi là hợp lí và chặt chẽ, được dùng khá phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu. Còn cách hiểu tất cả các sự kiện nói đều được gọi chung là diễn ngôn, trong đó những sự kiện nào được ghi lại bằng chữ viết hay bằng cách ghi âm thì gọi là văn bản được dùng nhiều trong nhà trường do tính giản dị của nó”.216] Theo khả năng bao quát các lí thuyết của chúng tôi, văn bản thuộc địa hạt ngôn ngữ, tồn tại ở trạng thái tĩnh, gắn với mặt hình thức của ngôn ngữ, còn diễn ngôn thuộc đơn vị của lời nói, luôn luôn biến động, gắn với mặt hành chức của ngôn ngữ.
Diễn ngôn liên quan nhiều đến các nhân tố ngoài ngôn ngữ, đặc biệt là văn hóa. Nói cách khác, nếu như ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, trong chính cấu trúc nội tại của nó thì phân tích diễn ngôn quan tâm tới mối quan hệ ngoại tại. Với phân tích diễn ngôn, người ta bắt đầu cố gắng tìm hiểu những cơ chế tạo lập và chi phối các văn bản ngôn từ - yếu tố nằm ẩn sâu, đằng sau các văn bản. Đương nhiên, đây là một ưu điểm bởi từ lí thuyết phân tích diễn ngôn, ta hiểu được văn bản một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn.
Dưới đây là một sự phân biệt cụ thể về hai đối tượng này. Bảng ngữ pháp văn bản và phân tích diễn ngôn NGỮ PHÁP VĂN BẢN PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN Giống nhau Cùng nghiên cứu các đơn vị trên câu Đối tượng Văn bản (tĩnh) Diễn ngôn (động) nghiên cứu Đặc trưng Tính liên kết (tổ chức Khác Tính mạch lạc (nghĩa) cơ bản hình thức) nhau Phương Mặt hình thức của văn Mặt hành chức của diễn diện bản ngôn nghiên cứu Như vậy, văn bản là sản phẩm ngôn ngữ viết và nó phân biệt với diễn ngôn ở đặc trưng cơ bản: Tính liên kết văn bản nhận diện được qua bề mặt từ ngữ, qua ngữ pháp và qua sự khai triển mệnh đề còn mạch lạc diễn ngôn được nhận diện qua nội dung ý nghĩa. Trong luận văn, văn bản mà chúng tôi khảo sát là tác phẩm văn học viết của Vũ Bằng và điều mà chúng tôi quan tâm nhất, đó là phép liên kết. Đặc trưng của văn bản Hiện nay, văn bản tiếng Việt đang được đánh giá qua nhiều khía cạnh như đã được đề cập ở trên.
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu và mô tả thực tế, các khía cạnh của văn bản không luôn được xem xét một cách độc 12 lập, mà thay vào đó có thể được đánh giá kết hợp dưới góc độ đặc trưng cụ thể. Chẳng hạn, tính liên kết của văn bản không chỉ được mô tả từ góc độ cấu trúc hình thức, mà còn từ góc độ nội dung, tức là "sự liên kết hình thức" và "sự liên kết nội dung" của văn bản. Điều này làm nổi bật sự đa chiều và phức tạp của văn bản trong quá trình nghiên cứu về ngữ pháp văn bản. Thông thường, người ta thường tiếp cận văn bản thông qua việc phân tích các đặc trưng giúp nhận diện nó trong ngữ cảnh ngôn ngữ, được gọi là "tính văn bản" hoặc "các phạm trù của tính văn bản".
Như vậy, quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ và văn bản không chỉ tập trung vào cấu trúc hình thức mà còn chú trọng đến các khía cạnh nội dung, tạo ra một cách tiếp cận đa chiều và toàn diện trong việc hiểu và đánh giá văn bản. Trong ngữ pháp văn bản, người ta thường nêu lên những đặc trưng chủ yếu sau đây [dựa theo đề xuất của Beaugrande i Dressler(1990)]: Tính liên kết (kohezja); tính mạch lạc (koherencja); tính chủ định (intencjonalność); Tính chấp nhận được (akceptowalność); tính thông tin (informacyjność); tính tình huống (sytuacyjność) ; tính liên văn bản (intertekstualność). Cũng chính vì vậy, văn bản được định nghĩa là “một sự kiện giao tiếp đáp ứng được bảy tiêu chuẩn về tính văn bản” nói trên. Nếu thiếu bất kỳ một tiêu chuẩn nào trong số đó thì “văn bản” cũng không mang tính giao tiếp, mà không có tính giao tiếp thì ngôn phẩm sẽ không phải là văn bản.
Ở Việt Nam, theo Diệp Quang Ban, văn bản có năm đặc trưng sau: a. Yếu tố nội dung Văn bản có đề tài hoặc chủ đề thống nhất và thường có thể xác định được. Yếu tố này giúp phân biệt văn bản với chuỗi câu tình cờ đứng cạnh nhau, tạo ra chuỗi bất thường về nghĩa hoặc phi văn bản. Yếu tố cấu trúc: Văn bản có cấu trúc hình thức và cấu trúc nội dung.
Các mặt cấu trúc này của văn bản do phong cách chức năng mà văn bản lệ thuộc vào quy định. Mạch lạc và liên kết Mạch lạc là yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, nó tạo nên mạng các mối quan hệ nghĩa, quan hệ logic, quan hệ chức năng, làm cơ sở cho việc tạo thành tính thống nhất đề tài (chủ đề) của VB. Mạch lạc là hiện tượng khá mơ hồ, chỉ có thể nhận diện được qua quan hệ nghĩa và quan hệ chức năng. Liên kết (đặt trên cơ sở nghĩa): sử dụng các phương tiện hình thức của ngôn ngữ (các từ ngữ cụ thể) để diễn đạt các quan hệ nghĩa.
Nhờ các phương tiện hình thức cụ thể của ngôn ngữ, liên kết có thể được nhận biết một cách dễ dàng. Mạch lạc có thể sử dụng các phương tiện liên kết để làm cái diễn đạt cho mình; tuy nhiên mạch lạc có thể không cần dùng đến phương tiện liên kết mà trái lại có dùng phương tiện liên kết chưa chắc đã tạo ra được mạch lạc cho văn bản. Yếu tố chỉ lượng Văn bản được thể hiện bằng sự nối tiếp tuyến tính của nhiều câu – phát ngôn, đây là dạng văn bản xuất hiện nhiều hơn; và đây cũng là cơ sở hiện thực của mạch lạc và liên kết. Nếu văn bản được làm thành từ một câu thì vấn đề liên kết không cần đặt ra, còn mạch lạc vẫn tồn tại nhưng không thật hiển nhiên nữa.
Tính văn bản của một biển hiệu, tên cơ quan, biển chỉ đường,. được xác định nhờ sự mạch lạc với ngữ cảnh và tình huống của chúng. Yếu tố định biên 14 Văn bản có biên giới phía bên trái (đầu vào) và biên giới phía bên phải (đầu ra) và nhờ đó mà có tính kết thúc tương đối. Yếu tố này giúp phân biệt những văn bản khác nhau khi nhiều văn bản cùng tập hợp lại như trên một tờ báo, trong một bài nghiên cứu 1.
Liên kết trong văn bản 1. Quan niệm liên kết Nếu như phân tích diễn ngôn hướng tới tính mạch lạc (nghĩa) thì phân tích văn bản hướng tới tính liên kết (tổ chức hình thức) của văn bản. Tuy nhiên, sự phân biệt trên không phải là tuyệt đối. Chẳng hạn, theo Đỗ Hữu Châu, liên kết nội dung chính là mạch lạc, còn liên kết hình thức là liên kết của văn bản.
Trong diễn ngôn, cái lõi của liên kết được hiểu là liên kết hiệu lực ở lời của các hành động nói. Luận văn sẽ không phân tích kĩ lưỡng sự khác nhau giữa hai khái niệm này mà chỉ quan tâm tới liên kết với tư cách là một yếu tố góp phần tạo nên mạch lạc cho văn bản. Ở Việt Nam, cho đến nay có thể kể đến hai quan niệm tiêu biểu về liên kết. Với nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, liên kết được hiểu là thành tố thuộc hệ thống - cấu trúc của ngôn ngữ.
“Đó là mạng lưới các mối quan hệ, liên hệ giữa các câu trong văn bản về mặt nội dung (các ý được diễn đạt trong câu) và mặt hình thức (các phương tiện dùng để liên kết ý lại với nhau)” [Dẫn theo 2, 149]. Đây là điểm quan trọng phân biệt một văn bản có tính liên kết với một tập hợp câu không quan hệ đứng gần nhau. Vì thế, tính chất liên kết là một thuộc tính trọng yếu của văn bản, “là nhân tố quan trong nhất có tác dụng biến một chuỗi câu thành một văn bản” [24, tr. Còn quan điểm của nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban (theo hướng của M.