mở đầu và đoạn thoại kết thúc phần lớn đƣợc nghi thức hóa và lệ thuộc vào rất nhiều yếu tố nhƣ các kiểu cuộc thoại (hội đàm, thƣơng thuyết, giao dịch thƣơng mại, trò chuyện, bàn bạc,…), vào hoàn cảnh giao tiếp, vào sự quen thuộc, vào sự hiểu biết về nhau,… Chúng cũng mang đậm dấu vết của từng nền văn hóa. Đoạn mở thoại, ngƣời mở thoại thƣờng tránh sự xúc phạm đến thể diện của ngƣời nghe, chuẩn bị một “hòa khí” cho cuộc thoại. Tuy nhiên, trong nghệ thuật hội thoại, không phải không có những trƣờng hợp ngƣời mở thoại cố tình xúc phạm đến ngƣời đối thoại nhằm gây những tác dụng nào đó. Khoa Ngôn Ngữ Học 18 Lớp Cao học K52 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình Đoạn thoại kết thúc có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ và xác định cái cách mà ngƣời ta chia tay.
Để kết thúc ngƣời ta có thể đƣa ra lời xin lỗi về việc phải kết thúc và phải chia tay, tổng kết cuộc thoại, cảm ơn, hứa hẹn, lời chúc,… Vì phép lịch sự, chúng ta thƣờng tránh sự kết thúc đột ngột, đơn phƣơng, tuy nhiên trƣờng hợp ngoại lệ không phải là không có (nhất là khi ngƣời ta ở vị thế xã hội cao). Lƣợt lời Mỗi một lần hội thoại chí ít bao gồm một lƣợt lời của hai bên. Đây là sự tƣơng tác luân phiên qua lại trong hội thoại, trong cuộc thoại ngƣời nói sẽ luân phiên nhau. Vai nói thƣờng xuyên thay đổi và lƣợt lời thứ nhất có chức năng định hƣớng cho lƣợt lời thứ hai.
Hai lƣợt lời có quan hệ chặt chẽ, liên kết mật thiết tạo thành cặp thoại. Lƣợt lời chứa các hành vi trong đó có hành vi hỏi và hành vi đáp. Các lƣợt lời trong cuộc thoại phải đảm bảo tính thống nhất nội dung phục vụ cho sự phát triển vấn đề, hƣớng tới đích của cuộc thoại. Sự hòa hợp giữa các lƣợt lời cùng tính thống nhất nội dung trong cuộc thoại là điều kiện cho cuộc thoại thành công.
Lƣợt lời là một hình thức xã hội nó bị chi phối bởi một hệ thống những quy ƣớc đối với việc giành lời, giữ lời và nhƣờng lời. Theo quan niệm của Nguyễn Đức Dân, cơ chế của sự luân phiên lƣợt lời đó là có sự phân biệt giữa tranh lời với chuyển giao lƣợt lời, còn gọi là sự trao lời. Trao lời là sự chuyển lời tự nhiên, có ý thức chủ động của ngƣời đang giữ lƣợt lời. Mỗi ngƣời có thể trực tiếp chuyển giao lƣợt lời cho một đối tƣợng xác định.
Tuy nhiên, trong hội thoại đặc biệt là trong song thoại, hiện tƣợng cƣớp lời, lời chồng chéo lên nhau là không bình thƣờng, là không lịch sự (trừ phi tranh luận hoặc cãi nhau). Vì vậy, cũng thƣờng xảy ra trƣờng hợp một ngƣời đang nói Khoa Ngôn Ngữ Học 19 Lớp Cao học K52 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình dở chừng, sau khi bị cƣớp lời, sau khi bị một ngƣời khác nói chen ngang, lại “Tôi xin trình bày tiếp vấn đề đang nói dở chừng”. Nhƣ thế, về hình thức lƣợt lời đã bị luân phiên, nhƣng liên kết trực tiếp về nội dung vẫn đƣợc duy trì. Điều này liên quan tới việc phân tích cấu trúc của đoạn thoại.
Lối nói xen ngang liên quan tới văn hóa, tập tục và những quy ƣớc của từng dân tộc, từng xã hội, chúng thƣờng phản ánh những quan hệ tôn ti hay những cƣơng vị nào đó. Trái với trao lời là tranh lời, còn gọi là ngắt lời. Đây là những lời nói “xen ngang” vào lời của ngƣời khác. Hoặc vì tƣởng nhầm là họ đã nói xong, hoặc vì một phản ứng tức thời, tích cực hay tiêu cực.
Nhƣ vậy, lƣợt lời có thể bị động chuyển sang lƣợt lời của ngƣời khác một cách không tự nhiên. Khi nghiên cứu về sự luân phiên lƣợt lời, ngƣời ta còn chú ý tới những hiện tƣợng sau: Khoảng cách thời gian tối thiểu và tối đa trong một lƣợt lời. Điều này là một nguyên tắc trong sự luân phiên lƣợt lời và nó mang dấu ấn của từng nền văn hóa. Theo Kerbrat - Orecchioni thì khoảng cách tối thiểu giữa hai lƣợt lời của ngƣời Mỹ là 5/10 giây, của ngƣời Pháp là 3/10 giây.
Khoảng cách thời gian trong sự xen lời, tranh lời - hai ngƣời đồng thời nói. Thứ tự của các lƣợt lời Độ dài của lƣợt lời Những cơ chế thực hiện lƣợt lời Những tín hiệu điều chỉnh lƣợt lời. Khoa Ngôn Ngữ Học 20 Lớp Cao học K52 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình 1. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech act) Ngƣời có công đầu tiên khởi xƣớng lý thuyết hành vi ngôn ngữ đó chính là Austin (1962) trong công trình nghiên cứu của mình: “How to do things with words”, tác giả đã đƣa ra khái niệm “hành vi nói năng”.
Nội dung chủ yếu của khái niệm này là khi con ngƣời nói năng là họ sử dụng ngôn ngữ để làm việc gì đó, hoàn thành một hành vi nhất định nào đó. Chẳng hạn nhƣ có thể dùng lời nói để trần thuật, hỏi, cầu xin, đề xuất, hứa hẹn, dọa nạt,… (Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội, trang 170). Lý thuyết này về sau đƣợc nhà triết học J.Searle phát triển. Trong công trình nghiên cứu của mình, Austin đã đƣa ra các tiêu chí phân biệt sự khác nhau trong cùng một hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời, hành vi tạo lời và hành vi mƣợn lời).
Cụ thể nhƣ sau: 1. Hành vi tạo lời Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ nhƣ: Ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp thành câu,… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Theo Austin, có ba phƣơng diện khác nhau của hành vi này. Quan sát một phát ngôn, trƣớc hết ngƣời ta có hành vi ngữ âm để tạo ra chuỗi âm thanh làm nên phát ngôn đó.
Tất cả mọi cách thức âm thanh để thực hiện một âm tố, một từ thuộc lớp từ vựng hay ngữ pháp nào đó với những kiểu nhấn giọng, ngữ điệu xác định đƣợc gọi là hành vi đƣa giọng. Hành vi mƣợn lời Hành vi mƣợn lời là những hành vi mƣợn phƣơng tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu lực ngoài ngôn ngữ nào đó ở ngƣời nghe, ngƣời nhận hoặc chính ngƣời Khoa Ngôn Ngữ Học 21 Lớp Cao học K52 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình nói. Khi thực hiện một hành vi tại lời, chúng ta có hai hiệu quả khác nhau. Thứ nhất, đó là giá trị tự tại của hành vi tại lời.
Thứ hai, đó là hiệu quả mà ngƣời nói chủ định gây ra đối với ngƣời nghe. Hành vi tại lời của một câu khuyên nhủ, nhƣng ngƣời nói có thể mƣợn lời khuyên nhủ này để tạo ra sự xúc động ở ngƣời nghe qua thái độ ân cần, trìu mến khi nói, cũng một hành động và cũng có thể bày tỏ sự quan tâm của ngƣời nói,… (Dẫn theo Nguyễn Đức Dân, Ngữ dụng học, tập một, trang 19). Trong số những hành vi ngôn ngữ đƣợc đề cập ở trên có lẽ hành vi tại lời đƣợc chú trọng, quan tâm hơn cả và đây cũng là phần lý thuyết quan trọng đƣợc chúng tôi sử dụng vào mục đích nghiên cứu của luận văn. Chúng tôi xin nêu rõ hơn về loại hành vi ngôn ngữ này.
Hành vi tại lời (Illocutionary act) 1. Khái niệm Hành vi tại lời là những hành vi đƣợc ngƣời nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tƣơng ứng với chúng ở ngƣời nhận. Trong giao tiếp một phát ngôn đƣợc đƣa ra bao giờ cũng nhằm một mục đích nhất định.
Sự thực hiện hành vi nhƣ vậy gọi là hành vi tại lời. Nó cho ngƣời nghe biết ý định và mục đích mà ngƣời nói hƣớng tới. Chính vì thế loại hành vi này thƣờng có những động từ ngữ vi tƣơng ứng để gọi tên nhƣ: Khẳng định, hỏi, mời, chào, chúc, khuyên, ra lệnh, yêu cầu,… Khác với hành vi mƣợn lời, hành vi tại lời có những qui ƣớc và có thể chế mặc dù điều này không bộc lộ rõ ràng. Vì vậy, việc biết một ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở chỗ nắm đƣợc ngữ âm, từ ngữ, câu và cách kết hợp bởi đó chỉ là bề Khoa Ngôn Ngữ Học 22 Lớp Cao học K52 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình mặt… sâu hơn chúng ta cần phải nắm đƣợc những qui tắc điều khiển các hành vi tại lời của ngôn ngữ đó.
Tiêu chuẩn phân loại các hành vi tại lời Theo Nguyễn Đức Dân, từ những nghiên cứu nền tảng của Austin, Searle đã nêu ra tới 12 phƣơng diện mà các hành vi tại lời có thể khác nhau. Trong số này ông chọn ra ba tiêu chí cơ bản để phân loại các hành vi tại lời đó là: Đích ở lời, hƣớng khớp ghép lời và trạng thái tâm lý đƣợc biểu hiện. Đích tại lời: Đích tại lời của một hành vi ngôn ngữ là mục đích của hành vi ngôn ngữ đó. Đích tại lời không trùng với hiệu lực tại lời, chỉ là bộ phận của hiệu lực tại lời.
Ví dụ: Đích tại lời của hành vi đề nghị là mong muốn ngƣời nghe giải quyết, xem xét ý kiến mình nêu ra; hay đích tại lời của hành vi xin là làm cho ai đó bị thuyết phục để cho mình cái gì; đích tại lời với hành vi hỏi là mong muốn nhận đƣợc thông tin từ phía ngƣời nghe… Hƣớng khớp ghép lời: Tiêu chuẩn này quy định mối quan hệ giữa từ ngữ và thực tại mà hành vi đề ra. Hƣớng khớp ghép này có thể đƣợc xây dựng theo hai chiều, từ ngôn ngữ tới hiện thực và từ hiện thực tới ngôn ngữ. Các hành vi đề nghị, yêu cầu, mệnh lệnh,… là các loại hành vi mà ngôn từ có xảy ra trƣớc và hiện thực diễn ra nhƣ thế. Các loại hành vi nhƣ trần thuật, miêu tả, khẳng định, hỏi,… là các loại hành vi mà hiện thực xảy ra trƣớc, ngôn ngữ diễn ra sau và phản ánh đúng hiện thực ấy.
Trạng thái tâm lý đƣợc thể hiện: Khi thực hiện một hành vi nào đó ngƣời ta có thể biểu hiện lòng tin, mong muốn, điều đáng tiếc,… Tiêu chuẩn này cho phép ta nhìn nhận nhiều hành vi khác nhau về bề ngoài dƣới cùng một góc độ. Khoa Ngôn Ngữ Học 23 Lớp Cao học K52 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận Văn Cao Học Phạm Thị Thu Bình Chúng ta có thể dựa vào ba tiêu chuẩn cơ bản này để xác định một hành vi cụ thể nào đó.