LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Ở đó DN bán hàng cho phép người mua thanh toán chậm tiền hàng đã mua trong một khoảng thời gian thỏa thuận nhất định. Bản chất của chính sách thương mại tín dụng là một hình thức cho vay ngắn hạn, một trong những chính sách ưu đãi được áp dụng nhằm tăng trưởng doanh thu, thu hút thêm khách hàng mới là chính sách TDTM.
Gần đây, tín dụng thương mại dần trở nên phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong chính sách tài chính của công ty, ảnh hưởng đến dòng tiền và có thể ảnh hưởng đến HQHĐKD. Tín dụng thương mại như ” con dao hai lưỡi, nếu biết tận dụng được các lợi ích của chính sách thương mại thì giúp doanh nghiệp bán hàng thu hút khách hàng, tăng mức tiêu thụ sản lượng, tạo lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp đối thủ. Đặc biệt, với các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng đặc thù như thép thì tín dụng thương mại chính là chính sách nổi bật nhất giúp doanh nghiệp thu hút được khách hàng. Tuy nhiên, chính sách tín dụng thương mại nếu không được sử dụng một cách linh hoạt, hợp lý cũng có thể mang đến cho doanh nghiệp rủi ro nợ xấu, nguy cơ mất vốn.
Hơn nữa doanh nghiệp cần nghiên cứu kĩ nhu cầu của khách hàng giúp chính sách tín dụng thương mại phát huy được hiệu quả nếu không có thể làm giảm hiệu quả hoat động và khả năng sinh lời của DN. Đứng trên góc độ của người mua hàng thì tín dụng thương mại tạo ra lợi thế chiếm dụng vốn, gia tăng vốn lưu động ngắn hạn. Giúp doanh nghiệp tăng khả năng xoay vòng vốn, đảm bảo nguồn tài chính ổn định để tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, DN cần tuân thủ cam kết trả nợ đúng hạn, việc không tuân thủ cam kết này sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín, danh tiếng của công ty.
Việc sử dụng tín dụng thương mại như con dao hai lưỡi, nếu tận dụng được các lợi ích thì giúp cả 2 doanh nghiệp có lợi, nâng cao kết quả kinh doanh. Tuy nhiên việc sử dụng không hiệu quả chính sách TDTM sẽ gây ra những tổn thất, lãng phí nguồn vốn ngắn hạn mà tín dụng thương mại tài trợ. Có thể nói ngành thép là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo sự ổn định và phát triển của một nền kinh tế chủ động, vững chắc. Thép thuộc nhóm ngành Vật liệu cơ bản, đón vai trò quan trọng trong nhiều ngành kinh tế 1 mũi nhọn.
sản phẩm từ thép là nguyên liệu chính đóng góp cho các ngành như: “Xây dựng (49%), Cơ khí (16%), Sản xuất ô tô (9%), Sản xuất kim loại (11%),.” Cơ cấu GDP năm 2022 công nghiệp và xây dựng chiếm 39% trong cơ cấu GDP năm 2022, ngành Thép đóng góp 5,6%. Điều này cho thấy Thép là ngành mũi nhọn, có vai trò quyết định tới sự tăng trưởng của nền kinh tế. Năm 2022 là năm bắt đầu tiến trình phục hồi của nền kinh tế sau giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng bởi những tác động tiêu cực của Covid-19. Tuy nhiên, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp thép ở Việt Nam đang gặp phải nhiều khó khăn, thách thức khi giá nguyên liệu tăng cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng, nhu cầu thép sụt giảm.
Lượng sản xuất thép thô cũng như lượng thép thành phẩm liên tục giảm cho thấy các doanh nghiệp thép đang gặp khó khăn trong thời điểm hiện tại. Trong bối cảnh đó, để có thể khẳng định được mình trên thị trường thì mỗi doanh nghiệp cần nắm vững tình hình hoạt động kinh doanh, có kế hoạch tài chính rõ ràng, quản lý tốt dòng tiền. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Ảnh hưởng của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành Thép niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam” cho bài Khóa luận tốt nghiệp của mình, nhằm đưa ra được những phân tích về các chính sách hiện tại và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng giúp hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty tốt. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu hướng đến của nghiên cứu: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thương mại tín dụng và nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách TDTM - Đánh giá tác động cuả tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thép được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Dựa trên hai hướng nghiên cứu trên, Khóa luận tốt nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu vai trò và tác động của tín dụng thuơng mai trong việc ảnh hưởng đến khả năng sinh lời trên tổng tài sản, từ góc nhìn của nhà quản lý doanh nghiệp Mục tiêu cụ thể: 2 - Thứ nhất: Doanh nghiệp ngành Thép sử dụng chính sách bán chịu có làm ảnh hưởng tới khả năng sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp - Thứ hai: Doanh nghiệp ngành Thép sử dụng chính sách mua chịu có làm ảnh hưởng tới khả năng sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của bài luận là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiêp khi sử dụng tín dụng thương mại Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: khóa luận phân tích doanh nghiệp Thép niêm yết ở Việt nam + Về thời gian: Dữ liệu được thu thập và nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2012 đến 2022 4. Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu được tác giả thu thập trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành Thép và sử dụng phương pháp định lượng, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến. Sử dụng phương pháp ước lượng FEM, REM để kiểm định các nhân tố đại diện cho chính sách TDTM ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kết cấu đề tài “ Bố cục của bài khóa luận được chia làm 5 phần: Phần 1: Tổng quan nghiên cứu Phần 2: Cơ sở lý luận Phần 3 : Thực trạng tín dụng thương mại Phần 4: Thu thập dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Phần 5: Kết quả nghiên cứu Phần 6: Kết luận và đề xuất các giải pháp ” 3 PHẦN 1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong nền kinh tế hiện nay, để quá trình kinh doanh được thuận lợi, các doanh nghiệp thường cho khách hàng mua hàng hóa và được trả chậm trong một khoảng thời gian nhất định.
Tín dụng thương mại không chỉ là nguồn tín dụng bổ sung phổ biến đáp ứng kịp thời nguồn vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh mà còn là một chiến lược bán hàng độc đáo tạo sự khác biệt và sức cạnh tranh mạnh mẽ cho các doanh nghiệp ở mọi quy mô và trong nhiều lĩnh vực ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển. Hiện nay chính sách TDTM được khá nhiêu nhà nghiên cứu quan tâm, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các yếu tố tác động đến chính sách tín dụng thương mại tuy nhiên các kết quả còn có nhiều tranh cãi bởi vì các nhân tố ảnh hưởng đến TDTM có sự thay đổi đáng kể giữa các quốc gia và các ngành khác nhau. Trong bài nghiên cứu này sẽ vẫn đánh giá và tham khảo thêm các nghiên cứu liên quan đến khoản phải thu khách hàng và khoản phải trả người bán. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài Lý thuyết TDTM được đề cập đến lần đầu bởi Le Goff (1957), ông chỉ ra rằng: Hình thức TDTM được xuất hiện lần đầu từ thời Trung Cổ , được hình thành khi người bán không đòi hỏi người mua phải thanh toán ngay khi nhận hàng.
Kể từ đó, có rất nhiều nghiên cứu đến tín dụng thương mại có thể kể đến như Nadiri (1969), Smith (1987), Brennan và cộng sự (1988), Long và cộng sự (1993), Guariglia và Mateut (2006), García-Teruel and Martinez-Solano (2010a, 2010), Fabbri and Klapper (2016),. - Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng thương mại của các doanh nghiệp Tín dụng thương mại là hình thức tín dụng ở đó, người bán đồng ý cho người mua trả chậm giá trị hàng hóa đã mua trong một khoảng thời gian nhất định. Hay nói cách khác, hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng- người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng một lượng vốn nhât định bằng với giá trị hàng hóa được mua bán trong một khoảng thời gian nhất định, và đến thời hạn đã thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán vốn và cả phần lãi nếu có (Petersen & Rajan, 1997). Doanh nghiệp cấp TDTM cho KH sẽ đẩy nhanh được lượng hàng bán ra, làm giảm lượng HTK và tăng doanh thu.
Đồng thời, 4 người mua được cấp TDTM sẽ có nguồn hàng phục vụ sản xuất kinh doanh mà không phải thanh toán ngay. Tín dụng thương mại là hình thức tín dụng phổ biến trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, là một nguồn tài chính quan trọng bên ngoài của doanh nghiệp, có thể thay thế cho tín dụng ngân hàng trong thời kỳ thắt chạt tiền tệ hay khủng hoảng kinh tế, ở các quốc gia đang phát triển cũng như các quốc gia phát triển (Bougheas & ctg, 2009). Những điều này xuất phát từ những ưu điểm. Đầu tiên, các doanh nghiệp mua hàng không tiếp cận với các khoản vay ngân hàng thì sẽ có nhu cầu cao với tín dụng thương mại vì đây là nguồn tài chính chủ yếu trong ngắn hạn của doanh nghiệp (Petersen và Rajan, 1997), hơn nữa tín dụng thương mại cho phép người mua đánh giá chất lượng sản phẩm trước khi thực hiện thanh toán.
Mặt khác, các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ có lợi thế hơn hẳn các tổ chức tín dụng khi được cung cấp tín dụng cho khách hàng do biết rõ thông tin về khách hàng qua những lần mua bán, giao dịch. Hiện tượng bất cân xứng thông tin thường chỉ xảy ra ở lần giao dịch đầu tiên” (Petersen và Rajan, 1997). Thứ hai, cả nhà cung cấp và khách hàng tham gia vào tín dụng thương mại có thể làm giảm chi phí giao dịch cho cả 2 bên. Khách hàng không phải thanh toán bằng tiền mặt cho mỗi lần được cung cấp hàng hóa mà họ có thể thanh toán hoàn trả sau đó.
Vì thế người bán tránh được rủi ro giao nhận tiền mặt thường xuyên, còn khách hàng sẽ chủ động trong việc quản lý tiền mặt, dễ dàng theo dõi các khoản mục, làm giảm chi phí giao dịch.