CHƯƠNG 1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ XUẤT KHẨU 1. PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Đặc điểm của ngành thủy sản Khi nói đến ngành thủy sản là nói đến ba khía cạnh chủ yếu sau: Thứ nhất, ngành thủy sản là một bộ phận hay còn gọi là một phân ngành của nông nghiệp, bởi vì ngành thủy sản có những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp nói chung. Tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành thủy sản là mặt nước; đối tượng lao động là những sinh vật thủy sinh; kết quả sản xuất của ngành là những sản phẩm sinh vật, những kết quả sinh học.
Mặc dù có những đặc điểm tương tự của nông nghiệp, ngành thủy sản vẫn có tính độc lập tương đối về kinh tế, kỹ thuật, môi trường. Tính độc lập tương đối về kinh tế biểu hiện ở chỗ trong ngành thủy sản người ta rất khó phân biệt rạch ròi về quyền sở hữu, quản lý và sử dụng lưu vực các con sông, cửa biển, vùng vịnh hay vùng biển. Do vậy, trong các hình thức tổ chức sản xuất, sự hiệp tác thường được coi trọng. Về mặt kỹ thuật, tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ ngành thủy sản cũng đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật riêng phục vụ cho nuôi trồng hay đánh bắt.
Về môi trường, hoạt động của ngành thủy sản cũng có thể tự gây ô nhiễm cho môi trường nước, lại cũng có thể làm các thủy vực và nguồn lợi thủy sản bị ô nhiễm hay hủy hoại do hoạt động của các ngành khác gây ra. Do vậy, sự phát triển hài hòa giữa thủy sản với trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp trên từng vùng sinh thái là điều kiện phát triển bền vững của nông nghiệp nói chung. Thứ hai, những hoạt động xuất phát điểm của ngành thủy sản bao gồm nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Tùy điều kiện cụ thể của mỗi vùng và mỗi địa phương về mặt nước và nguồn lợi thủy sản mà địa phương đó coi trọng hoạt động nuôi trồng, đánh bắt hoặc kết hợp phát triển hài hòa các hoạt động này.
Thứ ba, ngành thủy sản là một ngành có tính chất liên ngành cao. Khi trình độ phát triển và nhu cầu xã hội còn thấp, sản xuất ngành thủy sản có quy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 mô nhỏ, sản phẩm ít nên chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp dưới dạng sản phẩm tươi. Khi quy mô sản xuất tăng lên, nhu cầu tiêu dùng xã hội đa dạng và phức tạp thì việc chế biến phần lớn các sản phẩm đòi hỏi phải phát triển mạnh mẽ các ngành chuyên môn hóa hẹp như: công nghiệp đánh bắt cá biển, cơ khí chế tạo và sửa chữa tàu thuyền, công nghiệp sản xuất thức ăn cho chăn nuôi thủy sản, công nghiệp chế biến thủy sản… Ngoài ra, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn có các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ khác như: đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá, sản xuất bao bì, ngư cụ… Tất cả các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ nói trên cùng với nuôi trồng và công nghiệp thủy sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành cơ cấu ngành thủy sản. Thứ tư, sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao.
Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tư ban đầu tương đối lớn. Trong hoạt động nuôi trồng, nếu không kể những hoạt động nuôi cá ao hồ có sẵn, nuôi cá ruộng, nuôi lồng bè ở sông suối thì hầu hết các hoạt động đầu tư nuôi thủy sản đều cần vốn lớn như: đào ao thả cá trên đất canh tác hiệu quả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng; đầu tư cải tạo đầm nuôi thủy sản ở ven biển, cửa sông… Trong hoạt động đánh bắt, nhất là đánh bắt xa bờ đòi hỏi vốn đầu tư đóng mới tàu thuyền lên đến hàng tỷ đồng. Nhu cầu đầu tư vốn ban đầu tương đối lớn cho các hoạt động phát triển kinh tế như trên là vượt quá khả năng tự tích lũy và đầu tư của từng chủ thể kinh tế trong ngành thủy sản, đặc biệt là khả năng của các hộ. Do vậy, để phát triển thủy sản, Nhà nước phải xây dựng và thực hiện chính sách cho vay vốn theo các chương trình phát triển riêng của ngành này như: cho vay chương trình đánh bắt xa bờ, tín dụng đầu tư xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá theo qui hoạch… Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nhất là điều kiện thủy văn, bão, lũ.
Đối với những nước như nước ta có bờ biển dài, diễn biến bão lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ đã gây thiệt hại nặng cho nghề nuôi trồng thủy sản của cả một vùng hay một địa phương. Trong nhiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 trường hợp, thiên tai có thể gây thiệt hại cả đến tính mạng của ngư dân, nhất là ngư dân làm nghề đánh bắt ngoài khơi. Theo Luật thủy sản (số 17/2003/QH11) do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành qui định hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Như vậy, thủy sản là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc trưng gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại, là một trong những ngành kinh tế quan trọng của đất nước.
Sản xuất kinh doanh thủy sản dựa trên khai thác có hiệu quả, lâu bền nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước, do vậy có mối liên ngành rất chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải, dầu khí, du lịch, hải quan v. Ngoài những đặc điểm chung như đã nêu, ngành thủy sản Việt Nam còn có những đặc điểm riêng đáng lưu ý như: - Thủy vực và nguồn lợi thủy sản Việt Nam đa dạng và khá phong phú Đối với nước ta, nếu không kể tiềm năng mặt nước và nguồn lợi thủy sản nội địa, ta còn có tiềm năng về biển cho phát triển thủy sản. Biển Đông của Việt Nam có diện tích 3.447 nghìn km2, độ sâu trung bình 1.140m và bờ biển dài 3.260km, khá dồi dào về nguồn lợi sinh vật biển với khoảng 11.000 loài động thực vật biển, trong đó động vật nổi có 468 loài, động vật đáy có 6.377 loài; san hô cứng có 298 loài; động vật chân đầu có 53 loài; cá biển có hơn 2000 loài thuộc 717 giống, 178 họ; tôm biển có 225 loài; rong biển có 667 loài… Ngoài ra còn nhiều loại động thực vật biển phong phú và có giá trị khác như: chim biển, thú biển, thực vật nổi và thực vật ngập mặn… Bên cạnh đó, tài nguyên nước mặt của nước ta cũng tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới. Đây là điều kiện khá thuận lợi để phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản nước ngọt.
Với tiềm năng mặt nước và nguồn lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 thủy sản phong phú, Việt Nam hoàn toàn có thể và cần thiết phải phát triển ngành thủy sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn của khu vực nông, lâm, thủy sản trên cơ sở những thuận lợi chủ yếu là: + Chủng loại thủy sản nuôi trồng khá phong phú với nhiều giống loài từ nhiệt đới cho đến ôn đới như cá trê phi, rô phi, cá chim trắng, tôm thẻ chân trắng, bống tượng, trắm cỏ, chép lai… + Khả năng nuôi trồng và khai thác thủy sản có thể diễn ra quanh năm, trong khi ở các nước xứ lạnh chỉ có thể nuôi trồng, khai thác một vụ với quy mô lớn ngoài trời. + Giống loài động thực vật trong nước đa dạng, đặc biệt có nhiều loài có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao. Tuy nhiên do điều kiện địa hình và thủy vực phức tạp, lại nằm trong vùng có nhiều mưa, bão, lũ, rét và hay bị hạn vào mùa đông gây ra những khó khăn, thậm chí những tổn thất trong phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản. - Ngành thủy sản Việt Nam hiện nay đang ở trình độ thấp, có mặt còn lạc hậu, đang trong quá trình đổi mới để phát triển và hội nhập Đến năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước đạt trên 1.066 nghìn ha, tăng 66% so với năm 2000.
Do vậy, sản lượng thu hoạch từ nuôi trồng tăng gấp 5 lần và giá trị sản lượng nuôi trồng tăng gấp 7 lần. Nhờ đó ngành nuôi trồng thủy sản đã góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu, tham gia tích cực vào xóa đói giảm nghèo tại hầu hết các địa phương ở miền biển, đồng bằng, miền núi, vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên, việc phát triển nuôi trồng thủy sản vẫn thiếu ổn định do còn nhiều hạn chế về giống và thủy lợi, chưa thực hiện tốt chương trình quản lý chất lượng theo HACCP và quản lý dư lượng một số chất độc hại (kiểm soát dư lượng và tiêu chuẩn vùng nuôi). Về khai thác nguồn lợi thủy sản biển đến nay vẫn chậm đổi mới công nghệ, công cụ và phương thức khai thác lạc hậu so với một số nước trong khu vực; chưa gắn kết chặt chẽ khai thác với bảo quản chế biến.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thị trường cho các mặt hàng thủy sản và các sản phẩm liên quan vẫn còn hoạt động theo tính tự phát, chưa được quy hoạch, quản lý đầy đủ và toàn diện dẫn đến sự mất cân bằng cung cầu diễn ra liên tục không theo quy luật, chu kỳ nào làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành này. Điều này gây không ít khó khăn cho người nuôi trồng, khai thác lẫn các doanh nghiệp chế biến, thương mại trong lĩnh vực thủy sản. Nguồn lao động với kỹ năng lao động trong ngành thủy sản thể hiện tập trung nhất trình độ phát triển của ngành. Lực lượng lao động thủy sản chưa được đào tạo chiếm tỷ lệ lớn, nhất là trong lĩnh vực khai thác và nuôi trồng.
Hầu hết ngư dân khai thác hải sản dựa theo kinh nghiệm. Đối với khai thác xa bờ, ngay cả thuyền trưởng cũng còn hạn chế về kỹ thuật đánh bắt… 1.