Chương 1: Cơ sở lý luận tín dụng khách hàng cá nhân Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam – Chi nhánh Đồng Tháp. Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam – Chi nhánh Đồng Tháp. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng là hoạt động gắn liền với sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hóa.
Tín dụng còn là mối quan hệ kinh tế được thể hiện như sau: - Tín dụng là mối quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người vay cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định (Thái Văn Đại, 2017). - Theo khoản 14, điều 4 Luật các TCTD số 47/2010/QH12, cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Tín dụng được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên tín dụng đồng thời chỉ những hành động thống nhất chính là hoạt động cho vay và đi vay, hoạt động này được ràng buộc qua cơ sở pháp luật hiện hành. Dựa trên cơ cở lý luận trên, tín dụng khách hàng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người cho vay, khách hàng cá nhân đóng vai trò người đi vay, khách hàng cá nhân có thể là cá nhân, hộ gia đình hoặc hộ kinh doanh có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cá thể.
Cụ thể, NHTM là bên nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho đối tượng khách hàng cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, với quy tắc phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn và đúng mục đích sử dụng vốn. Vai trò tín dụng khách hàng cá nhân - Đối với nền kinh tế xã hội: + Tạo ra sự năng động cho các thành phần kinh tế: tín dụng KHCN là kênh hỗ trợ vốn với mục đích giúp các cá nhân thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và chi trả các chi phí trong cuộc sống. Bởi vì nhu cầu của khách hàng ngày càng tăng buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh sản xuất, từ đó tạo ra việc làm và những khác biệt tích cực làm tăng khả năng cạnh tranh với những đối thủ trong và ngoài nước. + Ổn định về mặt xã hội: Tín dụng KHCN giúp khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội một cách triệt để, rồi lưu thông các các nguồn vốn này từ nơi thừa nguồn vốn đến nơi thiếu nguồn một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao.
Tín dụng KHCN còn góp phần kích cầu cho nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và thúc đẩy sản xuất trong nước. Từ đó thu hút nhiều lực lượng lao động tham gia vào hoạt động xây dựng, sản xuất, nhằm hướng tới các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội, góp phần ổn định trật tự xã hội. - Đối với Ngân hàng: + Nâng cao thương hiệu cho Ngân hàng: việc phát triển tín dụng KHCN góp phần xây dựng thương hiệu cho Ngân hàng. Ngoài việc cấp tín dụng cho khách hàng, khách hàng còn giúp cho Ngân hàng thuận lợi trong việc bán chéo sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng như là: tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán điện tử, dịch vụ ngân hàng điện tử, phát hành thẻ,…Việc tạo ra sự khác biệt về khả năng cung cấp các gói sản phẩm dịch vụ tài chính cá nhân thỏa mãn nhu cầu khách hàng sẽ giúp cho Ngân hàng trong việc cạnh tranh với đối thủ, từ đó góp phần nâng cao thương hiệu cho Ngân hàng.
8 + Phân tán rủi ro: nếu một ngân hàng chỉ cho vay tập trung vào phân khúc khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng vốn lớn, vì một lý do bất khả kháng nào đó mà hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp này gặp khó khăn làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ, gây ra sự ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Mặt khác, số lượng khách hàng cá nhân đông, số tiền cho vay ít (so với nhóm khách hàng doanh nghiệp) thì khi khách hàng gặp rủi ro dẫn đến không còn khả năng trả nợ sẽ ít gây ra sự ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. - Đối với khách hàng cá nhân: + Linh hoạt hơn trong việc giải quyết những vấn đề thỏa mãn nhu cầu của cá nhân như: mua nhà ở, mua ô tô,… từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. + Tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh sản xuất cho các hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình, hỗ trợ họ có điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh và sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành.
Chức năng tín dụng khách hàng cá nhân - Chức năng tập trung và phân phối lại nguồn vốn: Tín dụng được xem là cầu nối giữa các nguồn cung về vốn và các nguồn cầu về vốn trong nền kinh tế. Thông qua chức năng như cầu nối này, tín dụng có thể thực hiện việc tập trung nguồn vốn từ những nơi đang có nguồn vốn dư thừa để phân phối lại nguồn vốn cho những nơi đang thiếu, hoạt động này được gọi là điều hòa nguồn vốn. Việc điều hòa này của tín dụng có hai cách thực hiện đó là điều hòa trực tiếp và điều hòa gián tiếp. + Điều hòa trực tiếp: Là việc chuyển nguồn vốn trực tiếp từ các chủ thể thừa nguồn vốn sang chủ thể đang có nhu cầu về vốn.
9 + Điều hòa gián tiếp: Là việc chuyển nguồn vốn từ các chủ thể có thừa nguồn vốn tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng vốn sang chủ thể đang có nhu cầu sử dụng vốn thông qua các tổ chức trung gian như ngân hàng, các công ty tài chính, quỹ tín dụng. - Chức năng kiểm tra và giám sát các hoạt động kinh tế: Chức năng này được thể hiện bằng việc thẩm định dự án, kế hoạch kinh doanh, cũng như việc kiểm tra và kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của chủ thể đi vay và chủ thể cho vay, nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn và đồng thời đạt hiệu quả cao nhất khi thực hiện quan hệ tín dụng. Sản phẩm tín dụng khách hàng cá nhân 1. Cho vay cá nhân Do thời gian phát triển chưa lâu nên các sản phẩm cho vay cá nhân tại Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm truyền thống, có thể áp dụng cho mọi đối tượng khách hàng, các sản phẩm như: - Cho vay bất động sản: mua nhà ở, đất, nhà dự án (thế chấp bằng hình thức tài sản hình thành trong tương lai), xây dựng và sửa chữa nhà ở.
- Cho vay bổ sung vốn kinh doanh cho hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình. - Cho vay mua ô tô (thể chấp bằng hình thức tài sản hình thành trong tương lai). - Cho vay tín chấp (không có TSĐB): cho vay tiêu dùng, thấu chi. - Cho vay du học: thanh toán học phí và chi phí sinh hoạt của du học sinh.
- Cho vay cầm cố giấy tờ có giá. Bão lãnh cá nhân Đây là loại hình nghiệp vụ ngân hàng này cung cấp cho khách hàng (gọi là bên được bảo lãnh) dịch vụ bảo lãnh theo yêu cầu của bên thứ ba (gọi là bên nhận bảo 10 lãnh) trong các lĩnh vực như giao dịch nhà đất, sản xuất, kinh doanh, thương mại,… các sản phẩm bảo lãnh cá nhân như: - Bảo lãnh vay vốn. - Bảo lãnh thanh toán. - Bảo lãnh dự thầu.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng. - Bảo lãnh đối ứng. Phát hành – Thanh toán thẻ tín dụng Thẻ tín dụng là sản phẩm kết hợp giữa tín dụng và thanh toán. Có thể hiểu theo cách đơn giản thẻ tín dụng là hình thức khách hàng được quyền chi tiêu trước, thanh toán tiền sau thông qua phương thức thanh toán bằng thẻ, với hạn mức tín dụng do ngân hàng quy định.
Với hình thức này khách hàng có thể thanh toán mua sắm hàng hóa một cách dễ dàng, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của bản thân. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng tín dụng khách hàng cá nhân 1. Dƣ nợ cá nhân - Dư nợ: Dư nợ là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà Ngân hàng đã cho vay và chưa thu được vào một thời điểm nhất định. Để xác định được dư nợ, Ngân hàng sẽ so sánh giữa hai chỉ tiêu doanh số cho vay và doanh số thu nợ.
Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ + Doanh số cho vay trong kỳ - Doanh số thu nợ trong kỳ - Dư nợ cá nhân: Dư nợ cá nhân/Tổng dư nợ = x 100% (%) 11 Dư nợ cá nhân thể hiện tỷ trọng giữa dư nợ tín dụng cá nhân so với tổng dư nợ, bên cạnh đó là đánh giá được kế hoạch tín dụng tại Ngân hàng và khả năng tìm kiếm khách hàng. Tỷ lệ này càng cao cho thấy được mức độ phát triển của tín dụng khách hàng cá nhân của Ngân hàng có hiệu quả và ngược lại. Doanh số cho vay cá nhân - Doanh số cho vay: Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà Ngân hàng cho khách hàng vay không kể đến việc món vay đó thu được hay chưa trong một thời gian nhất định. Doanh số cho vay thường xác định là tháng, quý hoặc năm.
- Doanh số cho vay cá nhân: Doanh số cho vay cá nhân là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng cá nhân mà Ngân hàng cho khách hàng vay, được diễn đạt bằng công thức sau: Tỷ lệ doanh số cho vay cá nhân = (%) Hai chỉ tiêu dư nợ cá nhân và doanh số cho vay cá nhân cho biết cơ cấu dư nợ và doanh số cho vay của tín dụng cá nhân trong tổng dư nợ và tổng doanh số cho vay. Từ đó có thể so sánh hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân so với hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Hệ số thu nợ cá nhân Hệ số thu nợ = x100% (%) Hệ số thu nợ là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng công tác thu hồi nợ của Ngân hàng. Chỉ tiêu này nói lên trong một thời kỳ nhất định, Ngân hàng sẽ thu được bao 12 nhiêu đồng vốn trên doanh số cho vay đến hạn phải thu.