CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khách hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm khách hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà các đơn vị sản xuất kinh doanh đang hướng các nỗ lực Marketing vào. Họ là người có điều kiện ra quyết định mua sắm, sử dụng dịch vụ. Khách hàng là đối tượng được thừa hưởng các đặc tính, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ.
Khái niệm về khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Khách hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại là các cá nhân hoặc hộ gia đình, hoặc doanh nghiệp siêu vi mô có nhu cầu vay vốn cho mục đích tiêu dùng như mua sắm vật dụng, du lịch, học hành… hay phục vụ cho mục đích kinh doanh, sản xuất ở quy mô nhỏ. Khách hàng bán lẻ không chỉ là nhóm khách hàng có nhu cầu vay vốn mà còn là lực lượng cung cấp cho các NHTM một lượng vốn lớn. Phân loại khách hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại Có thể phân loại khách hàng bán lẻ theo đối tượng vay vốn hoặc theo mục đích sử dụng vốn vay.
Phân loại theo đối tượng vay vốn: Theo cách phân loại này có thể chia làm 3 loại đó là: Cá nhân, Hộ gia đình và Doanh nghiệp siêu vi mô. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay: Theo cách phân loại này có thể chia làm hai loại đó là: Khách hàng vay tiêu dùng và khách hàng vay sản xuất kinh doanh.3 Đặc điểm khách hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại - Khách hàng bán lẻ là cá nhân, hộ gia đình và DN SVM nên các khoản vay thường là giá trị nhỏ, đặc biệt là vay cho mục đích tiêu dùng, khách hàng bán lẻ 9 thường có mức thu nhập không cao. Tuy nhiên số lượng các khoản vay này thường lớn và đều đặn. - Khách hàng bán lẻ đa số là vay ngắn hạn, nếu trong trường hợp vay trung và dài hạn chủ yếu là vay mua phương tiện vận tải hoặc vay mua nhà.
- Mức độ rủi ro từ khách hàng bán lẻ là lớn do các biến động về công việc, tình trạng sức khỏe, học hành con cái, tài chính, những yếu tố rất khó lường trước dẫn đến mất khả năng trả nợ hoặc khách hàng có thể cố tình không chịu trả nợ. - Với mục đích vay cho hoạt động sản xuất kinh doanh, khách hàng bán lẻ phần lớn có quy mô kinh doanh nhỏ, hơn nữa trình độ và thời gian của khách hàng bán lẻ dưới dạng cá nhân hoặc gia đình sản xuất cá thể thường rất hạn chế nên họ rất ngại tiếp xúc với khách hàng. Tuy nhiên số lượng khách hàng này khá lớn. - Khách hàng bán lẻ không chỉ là nhóm khách hàng có nhu cầu vay vốn mà nhóm khách hàng này còn là lực lượng cung cấp cho các NHTM một lượng vốn lớn.
Nguồn vốn này chủ yếu là các khoản tiết kiệm của các cá nhân, vì vậy tính ổn định của nó rất cao tạo điều kiện thuận lợi cho vay trung và dài hạn của các NHTM. Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho ngân hàng thống lĩnh trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng đó là đã không ngừng tận dụng được nguồn tiền gửi của dân cư và coi đây là nguồn vốn hoạt động quan trọng nhất.4 Vai trò của khách hàng bán lẻ đối với sự phát triển của nền kinh tế “Khách hàng cá nhân là nhóm khách hàng có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động của bất kỳ một NHTM nào, cũng như đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế. Khách hàng bán lẻ là nhừng người sử dụng hàng hóa dịch vụ trên thị trường do đó họ góp phần luân chuyển vốn, tăng lưu thông hàng hóa, phát triển dịch vụ nhờ đó tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống dân cư, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo. Khách hàng bán lẻ đối với ngành dịch vụ ngân hàng giúp đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân, hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm chi phí thời gian, 10 tiền bạc cho xã hội.
Tạo dựng mối quan hệ tốt đối với nhóm khách hàng này, các NHTM vừa tiếp cận được các món cho vay phát sinh từ nhu cầu tiêu dùng cũng như mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng bán lẻ. Đồng thời khi có những khoản tiết kiệm hình thành từ nhóm khách hàng này thì các ngân hàng thương mại đó cũng là nơi mà khách hàng thường sẽ lựa chọn để gửi tiền tiết kiệm của mình, giúp cho việc huy động vốn của ngân hàng đạt hiệu quả.2 Hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về hoạt động tín dụng bán lẻ Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất. Nhà kinh tế Pháp Louis Baundin đã định nghĩa tín dụng như là “Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy tài hoá tương lai”.
Theo mục 2 – Điều 3-Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD) với khách hàng, “cho vay là một hình thức cấp TD, theo đó TCTD giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. KHBL là đối tượng được NHTM hướng tới đầu tiên bởi nhu cầu của nhóm đối tượng khách hàng này luôn đa dạng và có xu hướng phát triển theo sự phát triển của xã hội. Như vậy, có thể hiểu hoạt động cho vay cá nhân là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, một bên là NHTM còn một bên người vay là khách hàng bán lẻ trong đó NHTM chuyển giao cho khách hàng bán lẻ một khoản tiền để sử dụng vào mục đích (chủ yếu là tiêu dùng, phát triển sản xuất kinh doanh…) và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc là người vay phải hoàn trả cả gốc và lãi theo thời gian đã được thỏa thuận.” Hiện nay, các NHTM tại Việt Nam đang chú trọng đến việc phát triển loại hình cho vay này và coi KHBL là đối tượng chiến lược trong quá trình phát triển. Hơn nữa hoạt động tiêu dùng là khâu rất quan trọng trong quá trình tái sản xuất, 11 hình thức cho vay này đóng vai trò quan trọng trong việc kích cầu tiêu dùng trong nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất đồng thời gián tiếp là công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà nước.2 Đặc điểm về hoạt động tín dụng bán lẻ Khách hàng vay: đó là các cá nhân hoặc các hộ gia đình hoặc DN SVM.
Giá trị, số lượng các khoản vay: Hoạt động tín dụng bán lẻ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các cá nhân và các hộ gia đình và DN SVM với mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ. Do đó, các món tín dụng bán lẻ thường là các món có giá trị nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lại rất lớn. Chất lượng các khoản vay: tín dụng bán lẻ có mức độ rủi ro lớn, được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Do bản thân khách hàng vay vốn có thể có những sự biến động về tài chính dẫn đến mất khả năng trả nợ hoặc khách hàng có thể cố tình không chịu trả nợ, hay do có sự biến động về công việc, tình trạng sức khỏe…Do có mức độ rủi ro cao, vì vậy các NHTM thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi vay vốn.
Lãi suất cho vay: Do quy mô các khoản vay thường có giá trị nhỏ dẫn đến chi phí cho vay cao, cùng với mức độ rủi ro lớn của các khoản vay mà các NHTM thường cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay của các khoản vay khác. Thường lãi suất tín dụng bán lẻ là mức lãi suất cao nhất trong biểu lãi suất cho vay của các ngân hàng. Thời hạn các khoản vay: Thời hạn các khoản vay chủ yếu là ngắn hạn, một phần là các khoản vay trung hạn, các khoản vay dài hạn thường chiếm tỷ lệ nhỏ.3 Phân loại tín dụng bán lẻ Hiện nay cùng với xu thế phát triển và cạnh tranh, các ngân hàng đều nghiên cứu đưa ra nhiều hình thức cho vay nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư, thu hút khách hàng, tăng trưởng lợi nhuận, phân tán rủi ro và đứng vững trong cạnh tranh. Đối với khách hàng bán lẻ, ngân hàng cũng cung cấp rất nhiều loại hình cho vay, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Về cơ bản, các tiêu chí để phân loại tín dụng bán lẻ cũng giống các tiêu 12 chí để phân loại tín dụng chung. Có thể phân loại tín dụng bán lẻ theo một số tiêu chí sau: a/. Căn cứ vào thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: là cho vay có thời hạn nhỏ hơn 1 năm. Với tín dụng cho doanh nghiệp, nguồn vốn này được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời.
Còn với tín dụng cá nhân, tín dụng ngắn hạn là hình thức tín dụng chủ yếu, vì nó thường phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng cần thiết của cá nhân và hộ gia đình. Rủi ro cho ngân hàng là khá nhỏ khi cho vay ngắn hạn, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có ngân hàng cũng có thể dự tính được. Cho vay trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Với các doanh nghiệp, đây là loại hình quan trọng hình thành nên tài sản cố định.
Đối với cá nhân, cho vay trung hạn phục vụ cho các nhu cầu vốn có thời hạn tương đối dài hơn như mua ô tô, xây dựng nhà cửa…. Cho vay dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm.