Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt động phát triển tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp phát triển và Nông thôn Việt Nam chi nhánh Mỹ Đình. - Chương 4: Giải pháp về hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp phát triển và Nông thôn Việt Nam chi nhánh Mỹ Đình. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan nghiên cứu về tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại 1.1 Tổng quan về nghiên cứu nước ngoài: 1. Vai trò của tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại: Tại các nước phát triển và các nước đang phát triển thì vai trò của hoạt động bán lẻ rất là quan trọng, nó là một phần không thế thiếu của nền kinh tế góp phần thúc đẩy sự lưu thông hàng hóa, tiền tệ, tạo ra sự thanh khoản, đáp ứng kịp thời các nhu cầu đời sống cần thiết của người dân được thể hiện qua các nghiên cứu sau: Lars-Erik & Park (2021), đã đưa ra vai trò của việc tạo ra giá trị chung và thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng tới ngành ngân hàng bán lẻ tại Mỹ. Với cách tiếp cận, quảng bá hình ảnh ngân hàng bán lẻ tới khách hàng theo cách lấy khách hàng làm trọng tâm, khách hàng trải nghiệm sản phẩm dịch vụ qua các nền tảng số, họ có thể tương tác đưa ra các phản hồi về việc cải thiện dịch vụ sản phẩm, đưa các lượt thích, chia sẻ nội dung thương hiệu từ đó ngân hàng sẽ hiểu hơn về khách hàng và điều chỉnh các sản phẩm dịch vụ cho phù hợp với xu thế nhu cầu chung của khách hàng. Kimberly (2022), đã đưa ra cách hoạt động và sự ảnh hưởng của ngân hàng bán lẻ tác động đến nền kinh tế ở Mỹ.
Các ngân hàng bán lẻ cung cấp tín dụng cho người tiêu dùng để mua nhà, xe hơi và đồ nội thất. Chúng bao gồm thế chấp, cho vay mua ô tô và thẻ tín dụng, những hoạt động trên đã thúc đẩy gần 70% nền kinh tế Hoa Kỳ. Hoạt động tín dụng bán lẻ cũng cung cấp thêm thanh khoản cho nền kinh tế theo cách hoạt động của nó. Xu thế của dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Với sự tiên phong trong các cuộc cách mạng về công theo dịch vụ tín dụng bán lẻ cũng được nghiên cứu theo thói quen của tiêu dùng của người dân khi bước vào một thời đại công nghiệp mới để nhằm nắm bắt đáp ứng kịp thời các nhu cầu 4 tiêu dùng của người dân, tránh việc lạc hậu so với thói quen tiêu dùng đời sống của khách hàng.
Marous (2018), đã đưa ra mười xu hướng chủ đạo, sẽ dẫn dắt hoạt động ngân hàng bán lẻ trên thế giới trong thời gian tới, trong đó có ba giải pháp quan trọng là: mở rộng việc sử dụng và phân tích dữ liệu chuyên sâu, Cải thiện đa kênh phân phối và mở rộng thanh toán số hóa. Capgemini (2020) đã đưa ra một số xu hướng chính của dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong thời gian tới đó là: Các ngân hàng đang dần bắt đầu triển khai việc hoạt động tín dụng bán lẻ không bảo đảm thông qua các kênh số; Các giải pháp blockchain đang được sử dụng để cải thiện quá trình nhận diện và xác thực khách hàng; Hệ sinh thái mở trong tương lai sẽ là một đòi hỏi bắt buộc các bên tham gia vào thị trường bán lẻ hợp tác với nhau. Cũng trong năm 2020, PWC đưa ra 06 tác động của làn sóng toàn cầu Và 06 ưu tiên quan trọng đến năm 2020 bao gồm: Phát triển mô hình kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm; Tối ưu hóa phân phối; Đơn giản hóa mô hình kinh doanh và vận hành; Đạt được lợi thế thông tin; Kích hoạt đổi mới và các khả năng cần thiết để thúc đẩy hoạt động; Chủ động quản lý rủi ro, quy định và vốn. Natalia (2022), đã đưa ra các xu hướng về nhân khẩu học ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng bán lẻ, trong đó các yếu tố ảnh hưởng là: sự thay đổi về thu nhập, thói quen tiêu dùng, tiết kiệm, dịch vụ sức khỏe cộng đồng, giới tính, độ tuổi, tỷ lệ lao động tại một khu vực nhất định, từ đó ngân hàng sẽ điều chỉnh những sản phẩm dịch vụ bán lẻ sao cho phù hợp với xu hướng tiêu dùng của người dân.
Phát triển tín dụng ngân hàng bán lẻ: Hoạt động tín dụng bán lẻ được phát triển theo các yếu tố về nhân khẩu học nhằm đưa ra các phương hướng đúng đắn để đáp ứng được độ nhạy bén của thị 5 trường, và hướng phát triển đang theo đuổi công nghệ hiện đại hóa, tiếp cận và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng ở xa. Larry & Aleda (2007), đã đưa việc xây dựng và thước đo lường về năng lực phát triển dịch vụ trong ngân hàng bán lẻ gồm có năm khía cạnh sau: Trọng tâm của quy trình phát triển dịch vụ mới, độ nhạy bén của thị trường, chiến lực, văn hóa phát triển và kinh nghiệm của công nghệ thông tin. ICAEW (2022), nghiên cứu đưa ra các rủi ro về hoạt động tín dụng bán lẻ trong bối cảnh nền kinh tế thế lạm phát, lãi suất ngân hàng tăng cao, giá cả vật tư leo thang, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng làm giảm đáng kể các khoản hỗ trợ phúc lợi của nhà nước, từ đó gây ra khả năng trích lập dự phòng cuối năm 2022 cho các khoản vay tín chấp thuộc hoạt động tín dụng bán lẻ ảnh hưởng tới lợi nhuận hoạt động kinh doanh tín dụng bán lẻ. Nghiên cứu trên đã cho thấy nguy cơ cho vay mất vốn nếu nền kinh tế gặp khủng hoảng 1.
Tổng quan về nghiên cứu trong nước: 1. Vai trò của tín dụng ngân hàng bán lẻ: Tại Việt Nam, hoạt động tín dụng bán lẻ ngân hàng chưa thực sự phát triển, khai phá hết tiềm năng lẫn quy mô do về sự e dè tâm lý người Việt ta nói riêng và tâm lý người châu Á nói chung luôn luôn ngại về chuyện vay mượn thay vào đó luôn luôn chắt chiu tiết kiệm. Mặc dù từ thời xa xưa, hoạt động vay mượn phục vụ nhu cầu đời đã có nhưng chỉ mang tính bộc phát chưa có quy định cụ thể nên vai trò của hoạt động tín dụng bán lẻ chưa có vai trò cụ thể trong đời sống. Hiện nay, Việt Nam đã hội nhập vào nền kinh tế thế giới kéo theo nền kinh tế trong nước phát triển dẫn đến đời sống của người dân càng cao, nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn do đó đây là cơ hội để hoạt động tín dụng thể hiện rõ vai trò của mình trong nền kinh tế hiện tại.
Vũ Thị Hương (2016), đã xây dựng được một cơ sở lý luận rất logic về những nội dung cơ bản về hoạt động hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại. Cụ thể, tác giả đã thể hiện được cơ sở về hoạt động cho vay tiêu dùng, xác định được đối tượng của cho vay tiêu dùng, nêu lên những đặc điểm và các 6 nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng. Đây là một cơ sở rất quan trọng để tìm ra sự khác biệt giữa hoạt động hoạt động tín dụng bán lẻ với các hoạt cho vay khác của ngân hàng. Ngô Hải (2020), đã đưa ra vai trò của ngân hàng bán lẻ trong việc thúc đẩy số hóa nền kinh tế hậu Covid 19.
Nghiên cứu đã đưa số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng tăng cao nhờ việc số hóa các quy trình, nghiệp vụ ngân hàng và khách hàng, triển khai phương thức định danh điện từ (eKYC), việc triển khai eKYC là nền tảng để xây dựng mô hình ngân hàng số toàn diện, đem lại cơ hội tiếp cận các dịch vụ ngân hàng cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam. Xu thế của dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Hiện nay đang là thời đại công nghiệp 4.0, mọi thứ đều tự động hóa, số hóa, dữ liệu tập trung do đó ngành ngân hàng ở Việt Nam cũng phải tập trung hiện đại hóa theo xu hướng phát triển của thế giới tránh để các quy trình, công nghệ lạc hậu gây mất thời gian cho khách hàng. Vũ Hồng Thanh (2019), đã đưa ra xu hướng cho hoạt động ngân hàng bán lẻ trong thời kỳ các mạng công nghiệp 4. Nghiên cứu đã đưa ra các vấn đề cần phải cải thiện để bắt kịp xu thế như nâng cao trải nghiệm của khách hàng, tăng trưởng doanh thu và cắt giảm chi phí, từ đó đề xuất một số giải pháp là các ngân hàng đã buộc phải đẩy mạnh đầu tư chuyển đổi sang kỹ thuật số và tăng cường hợp tác với các tổ chức Fintech và tổ chức phi tài chính để học hỏi và mua lại những công nghệ tài chính mới để cải tiến quy trình vận hành.
Phát triển tín dụng ngân hàng bán lẻ: Việc phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ là sự thiết yếu để đảm bảo phù hợp với nhu cầu tiêu dùng đời sống của người dân. Đồng hành với sự phát triển là sự ổn định tránh sự mất cân bằng về một bên làm ảnh hưởng tới đời sống của người dân và hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng. Nguyễn Minh Đức (2014), đã nghiên cứu về sự phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong bối cảnh nền kinh tế có sự chuyển biến tích cực, đời sống con người 7 được cải thiện và nâng cao nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới. Từ đây, ngành Ngân hàng Việt Nam trở thành một trong những ngành hàng đầu và đây là cuộc chiến khốc liệt giành thị phần giữa các NHTM.