Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng bán lẻ tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam – CN Chương Dương giai đoạn 2018 – 6 tháng đầu năm 2022. Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng bán lẻ tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Chương Dương. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NHTM 1.
Tổng quan về hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thƣơng mại a. Khái niệm tín dụng bán lẻ: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu hình thức cấp tín dụng cho vay.
Theo thông tư số 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Hiện nay, các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới đã phát triển hoạt động hướng theo đối tượng khách hàng. Đây là một xu thế tất yếu vì nó đảm bảo quản lý rủi ro hữu hiệu hơn, các sản phẩm dịch vụ được cung ứng một cách tốt nhất cho từng đối tượng khách hàng, công tác kinh doanh, thị trường, sản phẩm mục tiêu có định hướng rõ ràng giúp ngân hàng đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu. Từ những lý do trên, cơ cấu tổ chức hoạt động của ngân hàng cũng có sự thay đổi, theo đó, ngân hàng phát triển theo mô hình ngân hàng khối, bao gồm hai khối chính là khối phục vụ khách hàng cá nhân và phục vụ khách hàng tổ chức.
Nếu như trước đây, đối tượng khách hàng chủ yếu của ngân hàng là các doanh nghiệp lớn, các tổ chức tài chính thì hiện nay phạm vi đối tượng đã được mở rộng hơn rất nhiều. Không những thế, ngân hàng đã phải chủ động tìm kiếm và phân loại khách hàng, tạo ra những sản phẩm dịch vụ và đưa nó đến đại bộ phận dân cư trong xã hội. Từ đó, thuật ngữ “bán buôn và “bán lẻ được sử dụng thường xuyên hơn tại các TCTD. Trong thực tế, các NHTM trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã và đang 9 thực hiện tái cấu trúc mô hình tổ chức hoạt động theo hướng hai đối tượng khách hàng chính là khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức.
Từ đó việc nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm hay ban hành các văn bản chính sách, quy chế, quy trình, các sản phẩm dịch vụ, biểu phí, lãi suất đều được thiết kế riêng cho từng đối tượng khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức. Tín dụng bán lẻ là một phần của ngân hàng bán lẻ, tại Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể nào để định nghĩa chính xác về tín dụng bán lẻ. Tùy theo từng ngân hàng khác nhau mà đối tượng khách hàng bán lẻ có thể khác nhau. Tại Vietcombank, tín dụng bán lẻ được hiểu là việc Ngân hàng tài trợ vốn bằng nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và các nghiệp vụ khác đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho tiêu dùng, đầu tư sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi.
Đặc điểm của hoạt động tín dụng bán lẻ: Ngoài những đặc điểm vốn có của tín dụng nói chung thì tín dụng bán lẻ có một số đặc điểm riêng: về đối tượng vay, về mục đích vay, hình thức cho vay có tính đa dạng cao, quy mô khoản vay thường nhỏ, yêu cầu cao về chất lượng, chi phí cao, mức độ rủi ro cao, tính thời điểm cao. Thị trường rộng và không ngừng tăng trưởng: Sự phát triển của xã hội và quy mô dân số ngày càng tăng, nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư thúc đẩy gia tăng nhu cầu cho loại sản phẩm này. Đối tượng vay vốn rất đa dạng, bao gồm cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các đối tượng này lại có sự đa dạng về độ tuổi, nghề nghiệp, ngành nghề kinh doanh và mục đích vay.
Bên cạnh đó, chất lượng các thông tin và các công cụ hỗ trợ để đánh giá tình hình tài chính của khách hàng vay thường không cao, thông tin khách hàng thường xuyên có sự thay đổi, cập nhật, đòi hỏi Ngân hàng phải có quy trình giám sát sau cho vay chặt chẽ và tuân thủ kiểm tra định kỳ. Các sản phẩm của tín dụng bán lẻ đa dạng: với đặc điểm đa dạng về đối tượng khách hàng nên các Ngân hàng cũng phải xây dựng danh mục sản phẩm đa 10 dạng để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Hơn nữa, đặc trưng của tín dụng bán lẻ là chủ yếu phục vụ các đối tượng cá nhân và hộ gia đình nên hoạt động tín dụng bán lẻ mang tính thời điểm rất cao, nhu cầu vay vốn của các khách hàng chịu tác động ảnh hưởng và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế. Hoạt động ngân hàng nói chung không thể tạo ra hàng loạt các sản phẩm lưu kho như các ngành khác.
Tính thời điểm thể hiện ở việc ngân hàng chọn thời điểm nào thì đưa ra sản phẩm mới, quyết định giảm phí, tăng lãi suất hay có chương trình khuyến mại phù hợp nhất đối với khách hàng. Tính thời điểm còn thể hiện ở tính cập nhật thông tin về sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng, cập nhật thông tin về khách hàng cá nhân khi có sự thay đổi. Vì vậy, ngân hàng cần nhanh nhạy trong việc dự đoán và xác định thời điểm để có kế hoạch đưa sản phẩm dịch vụ ra thị trường để có thể thu hút được nhiều khách hàng và hiệu quả nhất, đồng thời có sự cập nhật nhanh nhất các thay đổi từ phía khách hàng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ. Kênh phân phối sản phẩm đa dạng: chi nhánh, phòng giao dịch, ATM, Internet Banking, POS,.
Quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay nhiều: Giá trị từng khoản vay thường nhỏ lẻ, phân tán. Do đó dẫn đến tăng chi phí quản lý của ngân hàng cho từng món vay. Hoạt động tín dụng bán lẻ tuân theo luật số lớn. Với đặc thù phục vụ số lượng rất lớn khách hàng, sản phẩm dịch vụ đa dạng nên mặc dù giá trị của từng khoản vay thường không lớn nhưng số lượng các khoản vay lại rất lớn.
Số lượng kênh giao dịch phải đủ lớn nhằm đáp ứng nhu cầu rộng khắp của cư dân trong xã hội. Tỷ trọng cho vay vốn trung dài hạn đối với tín dụng bán lẻ có xu hướng cao hơn mức bình quân. Trong nhóm khách hàng bán lẻ, nhóm KHCN thường có xu hướng chiếm tỷ trọng lớn hơn. Nhóm khách hàng này có nhu cầu vay vốn trung dài dạn cho các mục đích mua, xây sửa nhà ở/đất ở, mua ô tô tiêu dùng, … nhiều hơn so với nhu cầu vốn ngắn hạn cho mục đích bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó, tỷ trọng dư nợ cho vay vốn trung dài hạn trong tổng dư nợ tín dụng 11 bán lẻ thường cao hơn mức bình quân của tỷ trọng dư nợ trung dài hạn trong tổng dư nợ nói chung. Vai trò của hoạt động tín dụng bán lẻ: Đối với nền kinh tế: Tín dụng bán lẻ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo việc làm và tăng nguồn thu nhập cho người lao động. Hoạt động tín dụng bán lẻ phát triển là điều kiện để thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ phát triển. Thông qua hoạt động tín dụng bán lẻ, các chủ thể kinh doanh mua bán được các hàng hóa dịch vụ, đảm bảocho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường, lưu thông hàng hóa dịch vụ được thông suốt.
Đối với các Ngân hàng thương mại: Tín dụng bán lẻ góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng. Tín dụng bán lẻ là một trong hai bộ phận trong nghiệp vụ tín dụng của NHTM bên cạnh tín dụng bán buôn. Tốc độ tăng tín dụng bán lẻ góp phần đẩy nhanh dư nợ, đồng nghĩa với tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng. Lợi nhuận từ tín dụng bán lẻ lớn so với các mảng nghiệp vụ khác.
Tín dụng bán lẻ giúp xây dựng mạng lưới khách hàng đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Khách hàng là nhân tố quyết định thành công của mỗi ngân hàng, mở rộng đối tượng khách hàng là mục tiêu của bất kỳ ngân hàng nào. Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ, các ngân hàng sẽ thu hút khách hàng mới, giữ lại những khách hàng cũ từ đó nâng cao vị thế, hình ảnh của chính ngân hàng. Với số lượng lớn, các khách hàng cá nhân chiếm đa số trong danh sách khách hàng của một ngân hàng, làm cầu nối để ngân hàng xâm nhập thị trường thông qua khả năng truyền dẫn thông tin nhanh và rộng.
Kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực kinh doanh nhiều rủi ro nhất, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế thế giới luôn có nhiều biến động. Tín dụng bán lẻ phát triển sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng phân tán bớt rủi ro, tạo nguồn thu ổn định cho ngân hàng. Đối với khách hàng: Tín dụng bán lẻ giúp cho các đối tượng của khách hàng bán lẻ là cá nhân, hộ gia đình có đủ nguồn vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng. 12 Đối với nhà sản xuất: Một trong những sản phẩm của tín dụng bán lẻ là cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng kích thích nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao khiến các nhà sản xuất bán được nhiều sản phẩm hơn. Doanh số bán hàng tăng cao mang lại cho nhà sản xuất lợi nhuận lớn, đồng thời giúp các nhà sản xuất quay vòng được vốn của mình.