Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM; Chương 2: Chất lượng hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh; Chương 3: Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh 7 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM 1. Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM 1. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này người cho vay chuyển giao quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định cho người đi vay. Khi đến hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay.
Như vậy cho vay được hiểu như sau: Cho vay phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa một bên là người cho vay (NHTM) còn bên kia là người vay (khách hàng vay vốn ). Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trử, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trở nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nước phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thương mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay trung và dài hạn.
Khu vực cho vay ngắn hạn nhường chổ cho thị trương tài chính - tiền tệ cung ứng. Ngược lại ở hầu hết các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát…) Ở một số nước phát triển cho tới nay, khi một ngân hàng được thành lập và đi vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên của nó là cho ai vay, và đầu tư vào đâu. Ở những nước này, đối tương cho vay là điều làm bận tâm nhiều hơn, nếu không nói là vấn đề quan trọng nhất. Trong khi đó ở các nước phát triển tình 8 hình lại ngược lại.
Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng không phải vấn đề cho ai vay, mà lợi tức có cao không và an toàn không. Thậm chí những lo ngại đại loại như vậy thực tế đã không còn vì hầu hết họ đã có những thị phần chắc chắn và vấn đề an toàn của vốn đã có pháp luật bảo đảm. Điều họ quan tâm là làm sao huy động được ngày càng nhiều tiền cho các khoản đầu tư có sẵn. Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi trường kinh tế.
Để hiểu nó, chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc trưng quan trọng của nó. Hoạt động cho vay là việc các NHTM cho khách hàng vay một số tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định đã thỏa thuận trước và khi hết hạn vay, người vay phải hoàn trả ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi. ủa NHTM được phản ánh ở 3 mặt: + Đây là mối quan hệ kinh tế giữa 1 bên là bên cho vay (NHTM) và một bên là bên đi vay (khách hàng vay vốn). + Khi vay vốn bên đi vay phải tuân thủ nguyên tắc: - Phả ạ - ử dụng vốn vay đúng mục đích + Quan hệ giữa bên cho vay và bên đi vay được ràng buộc bởi các quy định của pháp luật 1.
Hoạt động cho vay trung và dài hạn 1. Khái niệm, đặc điểm a. Khái niệm: Cho vay trung và dài hạn là một bộ phận của hoạt động cho vay tại các Ngân hàng được phân theo thời gian. Cho vay trung và dài hạn là cho vay có thời hạn trên 1 năm và thời gian cho vay không quá thời gian khấu hao của tài sản hình thành từ vốn vay.
Tùy theo từng quốc gia mà thời hạn của khoản vay trung và dài hạn sẽ được quy định khác nhau, ở Việt Nam một khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm được coi là trung hạn và khoản vay có thời hạn trên 5 năm được coi là dài hạn. Đặc điểm: Tín dụng trung và dài hạn có những đặc điểm quan trọng, chủ yếu sau: - Tín dụng trung - dài hạn được cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ cho họ trong việc mua sắm, tạo lập tài sản cố định. Do đó, đối tuợng cho vay chủ yếu của ngân hàng thương mại trong hình thức tín dụng này là vốn thiếu hụt tạm thời của các doanh nghiệp. - Do gắn liền với tài sản cố định và vốn vố định của khách hàng, tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương mại thường gắn liền với các dự án đầu tư.
Tuy nhiên, với tín dụng trung hạn thường đầu tư theo chiều sâu, trong khi đó tín dụng dài hạn tập trung cho các dự án đầu tư mở rộng. - Tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương mại có thời gian hoàn vốn chậm. Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu được lấy từ quỹ khấu hao và một phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại. Vì thế, khách chỉ có thể hoàn trả khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khác nhau – thời hạn cho vay kéo dài trong nhiều năm.
- Tín dụng trung - dài hạn thường có thời gian kéo dài, quy mô tín dụng thường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh tế quốc gia luôn biến động. Sự biến động này có thể tích cực hoặc tiêu cực mà chúng ta không thể biết được. Do đó mà một khoản vay dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro hơn là một khoản vay ngắn hạn vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động này lớn hơn. Mặt khác, lãi suất của cho vay trung - dài hạn thường lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn.
Vì độ rủi ro cao hơn, thời gian thu hồi vốn lâu hơn 1. Phân loại cho vay trung và dài hạn Căn cứ theo các hình thức cho vay trung và dài hạn thì cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng chủ yếu có các sản phẩm sau: - Cho vay đầu tư dự án: Là sản phẩm tài trợ vốn trung, dài hạn để đầu tư Dự án thực hiện tại Việt Nam và một số nước/vùng lãnh thổ phù hợp quy định của Pháp luật và BIDV trong từng thời kỳ. + Đặc điểm: 10 • Đối tượng cho vay: toàn bộ các chi phí hợp lý liên quan đến dự án. • Loại tiền cho vay: VND, USD, ngoại tệ khác.
• Số tiền cho vay: tối đa 85% tổng mức đầu tư. • Thời hạn cho vay: tối đa 15 năm. • Tài sản đảm bảo: tài sản hình thành từ vốn vay và/hoặc tài sản khác theo quy định của BIDV. + Lợi ích • Mức cho vay và thời gian vay phù hợp với dự án kinh doanh.
• Được tư vấn, hỗ trợ các thông tin cần thiết liên quan đến dự án đầu tư - Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiên, đồ dùng gia đình…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch…cũng có thể được tài trợ bởi CVTD. + Đặc điểm cho vay tiêu dùng • Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp • Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. • Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất.
Thông thường, người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. • Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng. • Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao. • Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này.
• Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. 11 + Lợi ích của cho vay tiêu dùng: • Đối với ngân hàng Ngoài hai nhược điểm chính là rủi ro và chi phí cao, CVTD có những lợi ích quan trọng như: Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho NH. Tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho NH • Đối với người tiêu dùng: - Được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt là đối với các khoản chi tiêu có tính cấp bách, như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế. - Đối với thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, Tín dụng tiêu dùng giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ, bằng CVTD trả góp (Installment Consumer Loan): Đây là hình thức CVTD trong đó người đi vay trả nợ (gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay.
Phương thức này thường áp dụng với các khoản vay có giá trị lớn, hoặc thu nhập từng định kỳ của khách hàng vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay.