CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn mà ở đó có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng trong một thời gian nhất định và có sự hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn [21, Tr.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định [2, Tr. Tín dụng bán lẻ hiện nay được hiểu là hoạt động cấp tín dụng (bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác) cho đối tượng khách hàng bán lẻ. Tùy thuộc vào tiêu chí phân loại khách hàng của từng ngân hàng mà đối tượng khách hàng bán lẻ được xác định khác nhau. Tại các NHTM Việt Nam hiện nay, đối tượng khách hàng bán lẻ đa phần được xác định là các khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tín dụng bán lẻ là một phần của dịch vụ NHBL, theo đó tín dụng bán lẻ là hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ phục vụ đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các kênh phân phối khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu liên quan đến quá trình sử dụng nguồn tài chính của cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong xã hội [2, Tr. 10 Từ những khái niệm trên, trong phạm vi bài viết, tác giả sử dụng thuật ngữ tín dụng bán lẻ (TDBL) là một hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sử dụng trong một thời hạn nhất định, phải hoàn trả lại cả gốc và lãi với mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh. Đặc điểm tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại Thứ nhất, quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Đối tượng được cung cấp sản phẩm TDBL rất rộng, số lượng khách hàng vô cùng lớn, bao gồm các cá nhân hộ gia đình, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng.
Bên cạnh đó, đối tượng khách hàng là các DNNVV trong nền kinh tế có nhu cầu vay vốn, nhưng giá trị của các khoản vay thường nhỏ. Thứ hai, tỷ trọng cho vay trung dài hạn đối với TDBL có xu hướng cao hơn mức bình quân chung, do các nhu cầu cho vay trung dài hạn mua nhà ở đất ở, mua sắm tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn, các nhu cầu vay tiêu dùng thông thường có thời hạn trên 12 tháng. Thứ ba, nhu cầu được cấp TDBL của khách hàng chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kì nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời cao; ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng rất nhiều cá nhân hộ gia đình, hạn chế chi tiêu vay mượn tiêu dùng, các DNNVV nhanh chóng thu hẹp sản xuất. Thứ tư, chi phí cho TDBL lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ lẻ, lượng khách hàng lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn; do nhu cầu sử dụng nguồn trung dài hạn cao nên chi phí vốn cao.
Thứ năm, các khoản TDBL thường có rủi ro cao và độ phân tán rủi ro 11 cũng cao. Chất lượng các thông tin tài chính của các khách hàng vay thông thường không cao, đối với các khách hàng cá nhân và hộ gia đình khó xác định, đối với DNNVV các báo cáo tài chính thường không được kiểm toán, dẫn đến rủi ro không cân xứng thông tin và rủi ro đạo đức. Thu nhập tại thời điểm hiện tại là nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay. Do vậy, nếu người này gặp các vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập ổn định hàng tháng sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ [6, Tr.
Vai trò của tín dụng bán lẻ Tín dụng bán lẻ có vai trò sau: - Đối với nền kinh tế: + Góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn để các cá nhân, hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng hóa, dịch vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai trò của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế, hoạt động ngày càng hiệu quả và đóng góp ngày càng nhiều trong GDP. + Góp phần kích cầu tiêu dùng: với các sản phẩm cho vay mua, sửa chữa nhà ở, mua ô tô, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt gia đình… phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, kích thích chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn nữa cho sản xuất, tạo công ăn việc làm góp phần tăng trưởng kinh tế. + Góp phần đẩy lùi nạn tín dụng đen với giá rất cao, kênh TDBL được khơi thông giúp các khách hàng cá nhân và hộ gia đình dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, hạn chế việc đi vay bên ngoài với lãi suất rất cao. - Đối với ngân hàng: + Đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội, với xu hướng chung của các ngành trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo cho các 12 ngân hàng đa dạng hóa kinh doanh, mở rộng các phân khúc khách hàng tiềm năng, mở rộng thị trường, phân tán rủi ro nhằm cung cấp những dịch vụ tốt nhất đến với khách hàng.
+ Trên góc độ tài chính, TDBL đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng. + Phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và TDBL, yêu cầu đặt ra đối với các ngân hàng là phải đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ thông tin, cải tiến chất lượng sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh kênh phối đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát triển. - Đối với khách hàng: + Phát huy tối đa nội lực khách hàng cá nhân, hộ gia đình, khai thác hết tiềm năng về lao động, đất đai, máy móc,… một cách hợp lý và có hiệu quả nhất. + Góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của khách hàng, tạo điều kiện nâng cao trình độ dân trí, hình thành những thói quen thông minh sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại.
Phân loại tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại - Phân loại theo thời gian + TDBL ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp, các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. + TDBL trung hạn: là loại hình cấp tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm, được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,. + TDBL dài hạn: là loại hình cấp tín dụng có thời hạn trên 5 năm, thời hạn tối đa có thể lên đến 20 - 30 năm. Một số trường hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm.
Đây là hình thức cấp tín dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn như: xây 13 dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô, xây dựng các xí nghiệp mới,. - Phân loại theo mục đích + TDBL nhà ở: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng nhà ở, đất đai, bất động sản của các hộ gia đình, các khoản vay này thường được diễn ra trong thời gian dài, quy mô lớn. + TDBL phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh: là khoản tín dụng để tài trợ vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ của các cá nhân, hoặc hộ gia đình. Trường hợp vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác, khách hàng vay là cá nhân có thể vay để đáp ứng nhu cầu vốn của chính cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân.
+ TDBL tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng. phục vụ cho nhu cầu sản xuất sinh hoạt trong một khu vực dân cư [4, Tr. - Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng + TDBL có đảm bảo bằng tài sản: là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như: thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh tài sản của người thứ ba, cho vay bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay. + TDBL không đảm bảo bằng tài sản: là hình thức cấp tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Việc cấp tín dụng này do chính các tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động lựa chọn trên cơ sở các phương án vay vốn hiệu quả, khả thi và độ tín nhiệm, uy tín trong quan hệ tín dụng của khách hàng [4, Tr. - Phân loại theo xuất xứ tín dụng + TDBL trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu và người vay trực tiếp trả nợ cho Ngân hàng. 14 + TDBL gián tiếp: Ngân hàng cấp vốn cho người có nhu cầu thông qua các tổ chức vay vốn, các doanh nghiệp cung ứng và bao tiêu sản phẩm cho nông dân trên cơ sở các thoả thuận trước giữa ba bên [8, Tr. PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm phát triển tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại Theo quan điểm của Triết học duy vật biện chứng: Phát triển là quá trình tiến lên từ thấp đến cao, phát triển không đơn thuần là tăng lên hay giảm đi về mặt lượng mà còn có sự biến đổi về chất của sự việc, hiện tượng. Phát triển là khuynh hướng vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện.