Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của phát triển tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Mỹ Đình Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Mỹ Đình 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài PWC (2015) đã nghiên cứu kỳ vọng của người tiêu dùng đối với các khoản vay tiêu dùng và chỉ ra rằng kỳ vọng của người đi vay bị định hình bởi sự phát triển của công nghệ. Nghiên cứu cho thấy đang có nhiều đối thủ gia nhập thị trường tín dụng bán lẻ với công nghệ tốt hơn bao gồm ứng dụng điện thoại di động và công cụ quản lý tải chính cá nhân, đơn giản hóa quy trình cho vay và cung cấp trải nghiệm cho vay nhanh chóng mà khách hàng mong muốn.
Để đi trước, người cho vay cần phải thay đổi thích nghi với kỳ vọng của khách hàng và xu hướng công nghệ mới trước khi các người cho vay mới xuất hiện. Disemadi & Shaleh (2020) đã nghiên cứu về chính sách tái cơ cấu tín dụng ngân hàng trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tại Indonesia. Tại Indonesia, đại dịch COVID-19 đã gây ảnh hưởng đáng kể đến sự ổn định kinh tế. Hệ thống ngân hàng tại Indonesia phải đối mặt là khả năng và hiệu suất của các khoản nợ trong việc thực hiện nghĩa vụ tín dụng của họ đã bị gián đoạn bởi sự lây lan của COVID-19, gây nguy cơ làm gián đoạn hoạt động của các ngân hàng trong việc quản lý tín dụng.
Để đối phó với tác động của COVID-19, việc khuyến khích tối ưu hóa chức năng trung gian ngân hàng là một chính sách cần thiết. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu pháp lý quy phạm và dữ liệu thứ cấp. Kết quả của nghiên cứu cho thấy việc ban hành chính sách để cung cấp kích thích kinh tế quốc gia thông qua việc áp dụng Quy định số 11 / POJK.03/2020 của Cơ quan Dịch vụ Tài chính là biện pháp quan trọng để khắc phục bất ổn kinh tế do sự lây lan của COVID-19. Chính sách này quy định việc tái cấu trúc tín dụng, đặc biệt là xác định chất lượng của các khoản vay tái cấu trúc một cách suôn sẻ cho các khách nợ bị ảnh hưởng bởi COVID-19.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, chính sách nhanh chóng và kịp thời của chính phủ là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển của hệ thống ngân hàng của mỗi quốc gia. 4 Gaur và cộng sự (2022) chỉ ra, trong vài năm gần đây, chất lượng tín dụng của các ngân hàng ở Ấn Độ đã giảm do tăng mạnh nợ xấu. Hiệp định Basel, được đề xuất bởi Ủy ban Basel, đã được tạo ra để tăng cường ngành ngân hàng và làm cho nó có khả năng chịu đựng tốt hơn đối với các cú sốc kinh tế hoặc tài chính. Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa Hiệp định Basel III và chất lượng tín dụng của ngành ngân hàng ở Ấn Độ.
Nghiên cứu này dựa trên một mẫu gồm 37 ngân hàng thương mại trong nước, được theo dõi trong 5 năm (2015-2019). Để giải quyết mối quan hệ giữa quy định vốn và chất lượng tín dụng, nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy. Kết quả cho thấy yêu cầu vốn nghiêm ngặt do Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ áp đặt đã giúp cải thiện chất lượng tín dụng bằng cách giảm nợ xấu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ đòn bẩy không dựa trên rủi ro đóng góp vào nợ xấu và ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của ngân hàng.
Tuy nhiên, các biện pháp rủi ro thanh khoản theo Basel III không có tác động đáng kể đến nợ xấu của ngân hàng ở Ấn Độ. Kết quả này có ý nghĩa cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý ngân hàng. Các nhà đầu tư cũng có thể sử dụng kết quả này để dự đoán tăng rủi ro tín dụng trong tương lai và các ngân hàng có mức đệm vốn cao hơn có thể bảo vệ khỏi tổn thất trong hoạt động cho vay. Các công trình nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Hoàng Bảo Anh (2019) đã tổng quát hóa những điểm quan trọng trong tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, luận văn giới thiệu chung về Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á trên các phương diện: lịch sử hình thành, cơ cấu nhân lực, các thành tích đã đạt được cũng như kết quả hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng, luận văn cũng đề cập và đánh giá tình trạng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á từ khâu quy trình cấp cho vay, các cơ sở pháp lý điều chỉnh cho vay đến đi sâu phân tích, nhận định qua các chỉ số quan trọng như dư nợ, tỷ trọng, tốc độ tăng trưởng tín dụng bán lẻ, cơ cấu, lợi nhuận và tỷ lệ nợ xấu tín dụng bán lẻ.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á có chủ trương cấp cho vay cho cả khách hàng hiện hữu và khách hàng mới, không áp dụng đối với các TCTD và chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, ưu tiên cấp 5 cho vay cho doanh nghiệp thuộc ngành nghề khuyến khích, có tình hình tài chính tốt, kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt ưu tiên các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, xuất nhập khẩu. Từ đó đánh giá các mặt ưu điểm, nhược điểm và đề ra các giải pháp nhằm phát triển cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á. Nguyễn Văn Trung (2019) đã trình bày được cơ sở lý luận về phát triển tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại, ở phần thực trạng tác giả đã giới thiệu về ngân hàng cũng như phân tích thực trạng về tình hình tín dụng cũng như phát triển tín dụng bán lẻ tại ngân hàng, đồng thời cũng chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển tín dụng bán lẻ tại ngân hàng bao gồm các nhân tố chủ quan và khách quan, từ đó đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - chi nhánh Bến Tre, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - chi nhánh Bến Tre trong thời gian tới như: giải pháp cải tiến tổng thể quy trình tín dụng đối với khách hàng bán lẻ, giải pháp về chính sách lãi suất tín dụng bán lẻ, Giải pháp về chính sách tài sản đảm bảo. Lê Khánh Duy (2019) cũng nghiên cứu phát triển tín dụng bán lẻ tại BIDV Gia Lai thông qua hệ thống các chỉ tiêu.
Mặc dù không nghiên cứu thực trạng phát triển tín dụng bán lẻ tại BIDV Nam Gia Lai thông qua các dữ liệu định tính nhưng luận văn đã trình bày khá rõ các khía cạnh trong phát triển tín dụng bán lẻ. Đồng thời, luận văn cũng đã chỉ ra bài học kinh nghiệm phát triển tín dụng bán lẻ tại Techcombank Gia Lai và Vietinbank Gia Lai và rút ra bài học kinh nghiệm cho chi nhánh. Điều này giúp các giải pháp được đề xuất trong luận văn có tính thực tiễn cao hơn. Bảo Hà Minh Châu (2020) tập trung vào đề xuất nhóm các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển tín dụng bán lẻ tại các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Các giải pháp được đưa ra gồm: Phát triển các sản phẩm tín dụng bán lẻ; Quản lý và phát triển khách hàng tín dụng bán lẻ; Quảng cáo, tiếp thị; Nâng cao trình độ cán bộ 6 tín dụng bán lẻ; Tăng cường quản lý nợ xấu, rủi ro tín dụng bán lẻ. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra mang tính tổng quát và không hướng tới phạm vi một Chi nhánh cụ thể. Vì vậy, việc áp dụng các giải pháp này vào phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại BIDV Chi nhánh Mỹ Đình sẽ không cho kết quả cao. Hà Anh Huỳnh Thư (2022) tập trung phân tích thực trạng tín dụng bán lẻ tại Ngân Hàng Bưu Điện Liên Việt (LienVietPostBank) trong giai đoạn 2019 – 2021.
Theo thống kê, năm 2021, tỷ trọng cho vay bán lẻ của ngân hàng chiếm 40,50% tổng dư nợ. Để ngân hàng bán lẻ thực sự trở thành động lực giúp ngân hàng bứt phá trong giai đoạn “bình thường mới”, bài viết đã đề xuất hai nhóm giải pháp cho LienVietPostBank và cơ quan quản lý nhà nước. Theo đó, LienVietPostBank cần thay đổi, cập nhật chiến lược, chính sách, quy trình; đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, ngân hàng mở để thích ứng linh hoạt với điều kiện bình thường mới và nhu cầu mới của khách hàng; đẩy mạnh tự động hóa, số hóa; tiết giảm chi phí, cải thiện hiệu quả hoạt động; đầu tư công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu lớn, nhân sự số và kỹ năng số phổ cập. Đồng thời, chú trọng quản lý rủi ro mới, rủi ro an ninh mạng, dữ liệu; tích cực đề xuất, góp ý hoàn thiện cơ chế, chính sách của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và bộ, ngành liên quan.
Cùng với đó, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cần đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phục hồi và tận dụng cơ hội chuyển đổi số, tiền kỹ thuật số, ngân hàng xanh với cách tiếp cận phù hợp; nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu quốc gia về dân cư, doanh nghiệp và ngành ngân hàng. Phạm Thị Thu Phương (2022), phân tích thực trạng phát triển tín dụng bán lẻ tại Vietinbank Đống Đa thông qua hệ thống các chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng như số lượng khách hàng bán lẻ vay vốn, dư nợ, cơ cấu và thu nhập từ tín dụng bán lẻ, tỷ lệ nợ xấu, đánh giá chất lượng cung ứng dịch vụ tín dụng bán lẻ,… Tuy luận văn vẫn còn có sự nhầm lẫn giữa chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng nhưng luận văn đã đưa ra được những đánh giá tương đối cụ thể về thực trạng phát triển tín dụng bán lẻ tại Vietinbank Đống Đa. Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm tiếp tục phát triển tín dụng bán lẻ tại Vietinbank Đống Đa bao gồm nhóm giải pháp chung và nhóm giải pháp về chuyên môn, nghiệp vụ.