CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng ra đời từ rất lâu nhưng đến nay, định nghĩa về tín dụng vẫn chưa được thống nhất và có nhiều cách hiểu. Về nguồn gốc, khái niệm “Tín dụng” có nguồn gốc từ thuật ngữ La Tinh “Credo” có nghĩa là tin tưởng tín nhiệm.
Có thể hiểu, tín dụng là một sự ứng trước “ giá trị hiện tại” để đổi lấy “giá trị tương lai” với mong muốn rằng “giá trị tương lai” sẽ lớn hơn “giá trị hiện tại”. Trong thực tế cuộc sống, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Theo cách hiểu đơn thuần: “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định sẽ quay trở lại người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn ban đầu”. Theo đó, tín dụng được chia ra làm ba hình thức dựa vào người cấp tín dụng là ai gồm có: Tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước và tín dụng ngân hàng.
Theo Khái niệm Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam số 07/VBHN-VPQH ban hành ngày 12/12/2017, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khách hàng cá nhân của NHTM là cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; có phương án kinh doanh, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp 6 với quy định của pháp luật; thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu, cho vay khách hàng cá nhân của NHTM là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi nhằm mục đích tiêu dùng và phục vụ sản xuất, kinh doanh. Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại.
Cho vay KHCN có những đặc điểm riêng, thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác, cụ thể như sau: - Đối tượng và mục đích vay: Là các cá nhân có nhu cầu vay vốn để sử dụng phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân đó. Khác với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng song không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa –xã hội. - Thị trường cho vay khách hàng cá nhân rộng nhưng quy mô khoản vay nhỏ. Hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay và thị trường lại rộng lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, nên quy mô của một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lượng các khoản vay cũng rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân sinh sống là vàm việc trên một vùng Lãnh thổ nhất định và nhu cầu tiêu dùng mỗi cá nhân rất đa dạng.
Theo tác giả Nông Hoàng Thành (2022), có đề cập đến các tiêu chí phân đoạn thị trường cho vay trong luận văn của mình như sau: 7 Bảng 1.1: Tiêu chí phân đoạn thị trường cho vay khách hàng cá nhân và thị trường cho vay khách hàng doanh nghiệp Cho vay khách hàng cá Cho vay khách hàng Tiêu chí nhân doanh nghiệp Đáp ứng nhu cầu của tổ Đáp ứng nhu cầu của cá Mục đích sử dụng chức nhân (gia tăng mức sống, vốn (tăng hiệu quả sản xuất kinh gia tăng thu nhập,…) doanh) Quy mô khoản vay Nhỏ Lớn Số lượng Nhiều Ít Phân tán, ít chuyên nghiệp Tập trung, tính chuyên Bản chất giao dịch trong giao dịch với ngân nghiệp cao trong giao dịch của khách hàng hàng với ngân hàng - Đơn giản - Phức tạp Thẩm định và phê - Nhanh chóng - Kéo dài duyệt của ngân - Tiếp cận thông tin khách - Tiếp cận thông tin khách hàng hàng dễ dàng hàng khó khăn hơn (Nguồn: Luận văn Nông Hoàng Thành, 2022) - Các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân có tính tương đồng và có tính chuẩn hóa cao. Mặc dù nhu cầu của mỗi cá nhân là không giống nhau, xuất phát từ sở thích, thu nhập và nơi sinh sống của mỗi người, nhưng sẽ đều có một số nhu cầu chung tương tự nhau như giải quyết vấn đề nơi sinh hoạt, phương tiện đi lại, mở mới hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh của bản thân, gia đình. Để đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết và cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng, kịp thời nhất, các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân phải được thiết kế chuẩn hóa, thống nhất tương tự “may sẵn” để bất kì khách hàng nào cũng có thể lựa chọn các sản phẩm thích hợp nhất với thời gian nhanh nhất, chi phí hợp lý nhất. Do đó, các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân phải có tính chuẩn hóa cao ở một số nội dung như xác định đối tượng khách hàng mục tiêu (độ tuổi, thu nhập, mục đích vay vốn.), quy trình cấp tín dụng (thời gian thẩm định phê duyệt, thủ tục thực hiện…), chính sách lãi suất, phí (lãi suất cho 8 vay, các loại phí khác…), chính sách bán hàng (hồ sơ – mẫu biểu, công tác truyền thồng…).
- Cho vay khách hàng cá nhân có mức độ ổn định và phân tán rủi ro. Hàng năm số lượng người có phát sinh các nhu cầu vay vốn phục vụ mục đích tiêu dùng hoặc mục đích sản xuất kinh doanh cho bản thân và gia đình rất lớn và đều đặn, do đó mức độ sử dụng các sản phẩm vay này thường được duy trì tương đối ổn định và đều đặn. Số lượng khách hàng lớn, và hầu hết các ngân hàng thương mại đều có khẩu vị cung cấp các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân có tài sản bảo đảm là sản phẩm chủ đạo và phát triển chính, do đó rủi ro từ hoạt động cho vay này được phân tán theo số đông, và có thể thu hồi vốn trong trường hợp khoản vay nợ có vấn đề, bằng cách phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay đó. - Các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân có chính sách riêng về giá, phí tương đối cao hơn so với các đối tượng vay vốn khác.
Do quy mô của các khoản vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao, đồng thời để cung ứng các sản phẩm dịch vụ tới khách hàng thuận tiện và nhanh chóng nhất, các nhân hàng thương mại phải mở nhiều điểm giao dịch (chi nhánh, PGD) nên rất tốn kém về chi phí. Do vậy, lãi suất và phí của các sản phẩm cho vay KHCN thường cao hơn so với lãi suất và phí áp dụng cho đối tượng cho vay khác của ngân hàng như KHDN, các TCTD khác nhằm bù đắp lại các chi phí đã bỏ ra. - Các thông tin phục vụ thẩm định cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu mang tính định tính. Việc thẩm định cho vay đối với một khách hàng cá nhân chủ yếu dựa trên các thông tin thu thập được do khách hàng chủ động cung cấp nên chất lượng thông tin thường mang tính một chiều, các thông tin để thậm định thường đơn giản và gần gũi với khách hàng, không mang tính lượng hóa bằng các báo cáo tài chính, chỉ số chứng minh tình hình hoạt động, kinh doanh như đối với khách hàng doanh nghiệp.
Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại Tùy theo từng mục đích sử dụng và tiêu thức phân loại, cho vay KHCN có thể 9 phân thành nhiều loại. Cụ thể như sau: 1. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay Theo tiêu thức phân loại này, các khoản vay khách hàng cá nhân bao gồm: vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh. - Vay tiêu dùng: Là khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình như: xây nhà, sửa nhà, mua xe ô tô, du học, chữa bệnh, cưới hỏi,… - Vay sản xuất kinh doanh: Là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình như: bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản cố định, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinh doanh chứng khoán, vàng.
Căn cứ vào phương thức cho vay Theo tiêu thức này, cho vay khách hàng cá nhân chủ yếu bao gồm: cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng. - Cho vay từng lần: Là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay khách hàng và ngân hàng đều phải làm các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Đây là hình thức cho vay theo món khi khách hàng có nhu cầu. - Cho vay trả góp: Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn vay.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp nhận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên số dư tài khoản thanh toán của khách hàng tới một hạn mức nhất định, trong thời gian nhất định. Hiện nay, phương thức cho vay này đang được các NHTM thực hiện ngày càng rộng rãi bởi tính ưu việt của nó.