CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Khái niệm rủi ro tín dụng Dù đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực tài chính, rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng. Ngân hàng nhà nước (2021) nêu rõ: "Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi chung là thỏa thuận) với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài." Có thể hiểu rủi ro tín dụng chính là tổn thất mà ngân hàng có thể gặp phải từ sự không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của khách hàng.
Rủi ro tín dụng là một trong những mối lo ngại rất lớn của các NHTM vì rủi ro này không những ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động và uy tín của ngân hàng mà còn quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Rủi ro tín dụng làm cho giá trị tài sản của ngân hàng giảm sút, làm mất vốn và sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng. Ngân hàng cần đặc biệt quan tâm đến rủi ro tín dụng vì chỉ cần một số lượng nhỏ các khách hàng chính của ngân hàng mất khả năng thanh toán cũng có thể dẫn đến những tổn thất lớn cho ngân hàng. Đặc biệt, đối với các ngân hàng còn nghèo nàn trong việc kinh doanh dịch vụ tài chính, trong khi tín dụng được coi là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu thì rủi ro tín dụng lại càng được chú ý.
Căn cứ theo định nghĩa đã nêu trên, rủi ro tín dụng đối với KHCN được hiểu là khả năng mà các khách hàng vay hoặc bên đối tác (với chủ thể mang tư cách thể nhân) không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Rủi ro thất thoát đối với ngân hàng rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng cá nhân, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng cá nhân không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại a. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng được phân thành: Rủi ro khoản vay: Là rủi ro liên quan đến từng khoản vay đơn lẻ hoặc từng khách hàng cụ thể và mức độ ảnh hưởng thường được giới hạn do quy mô khoản vay.
Đây là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh từ những hạn chế, thiếu sót trong quá trình tác nghiệp như thẩm định xét duyệt hồ sơ vay vốn, giải ngân, kiểm soát sau vay… Rủi ro danh mục: Là rủi ro được đánh giá đối với một danh mục các khoản vay có tính chất tương đồng (đối tượng khách hàng, đối tượng cho vay hay tính chất khoản vay. Việc đánh giá rủi ro danh mục có vai trò quan trọng vì mức độ ảnh hưởng lan tỏa và quy mô tín dụng lớn. Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng được phân thành: Rủi ro khách quan: Do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, người vay bị chết, mất tích và các biến cố bất khả kháng khác làm thất thoát tín dụng trong khi khách hàng và ngân hàng đã thực hiện đúng quy định, quy trinh, chính sách tín dụng cũng như những thỏa thuận trong hợp đồng tin dụng. Rủi ro chủ quan: Do nguyên nhân thuộc về chủ quan khách hàng và ngân hàng vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn hay những lý do chủ quan khác.
Căn cứ theo tính chất rủi ro tín dụng được phân thành: Rủi ro mất vốn: Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người vay không có khả năng trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát, giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi. Rủi ro đọng vốn: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng và ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng. Theo giai đoạn phát sinh rủi ro: Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong quá trình tạo lập hồ sơ và phân tích tín dụng, nhận biết thông tin khách hàng, đánh giá sơ bộ khoản vay dẫn đến quyết 4 định cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai.
Rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong quy trình cấp tín dụng, các nguyên nhân gồm: sai sót trong quá trình giải ngân, giải ngân không đúng tiến độ, không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên, không dự báo được rủi ro tiềm năng. Rủi ro xảy ra khi ngân hàng không nắm được tình hình và mục đích sử dụng vốn vay, khi khách hàng cố tình sử dụng vốn vay không đúng mục đích ban đầu hoặc thay đổi trong khả năng tài chính, cũng như thiện chí trả nợ của khách hàng. Căn cứ phạm vi của rủi ro tín dụng, có thể phân thành: RRTD cá biệt: Là RRTD xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân: Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng, tình hình tài chính của khách hàng, khả năng quản trị của khách hàng, đạo đức khách hàng và các nguyên nhân khác.
RRTD hệ thống: Là RRTD xảy ra với tất cả khách hàng trong hệ thống. Nguyên nhân của rủi ro hệ thống đến từ các yếu tố kinh tố vĩ mô bao gồm: sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách vay của ngân hàng, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu. Để hạn chế rủi ro này, thay vì đa dạng hóa hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, các tác động của lạm phát, thất nghiệp, các chính sách sắp đến của Chính phủ và chủ động đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp. Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Thứ nhất, nguyên nhân rủi ro đa dạng hơn các loại hình tín dụng khác: Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng KHCN rất đa dạng, có thể xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khỏe, công việc.
Ngoài ra, để có được khoản vay, nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khỏe và công việc trong tương lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản cho vay KHCN có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hóa đã mua. Hơn nữa, khách hàng cá nhân bao gồm nhiều đối tượng, ngành nghề, tầng lớp, độ tuổi, trình độ chuyên môn khác nhau, nên công tác KSRR tín dụng KHCN sẽ gặp phải nhiều rủi ro hơn các đối tượng khác. 5 Thứ hai, nguy cơ xảy ra rủi ro lớn.
Trước những biến động bất lợi của điều kiện kinh tế, môi trường kinh doanh, khả năng chống đỡ, vượt qua khó khăn của cá nhân và hộ gia đình là yếu hơn so với các doanh nghiệp, tổ chức. Vì tiềm lực tài chính của một cá nhân, một gia đình là yếu hơn so với doanh nghiệp, tổ chức cũng như mối quan hệ, các nguồn huy động vốn hạn chế hơn nên cùng một tác động bất lợi thì các cá nhân và hộ gia đình sẽ gặp khó khăn hơn. Chính vì những lý do này, các khoản tín dụng khách hàng cá nhân có khả năng gặp rủi ro nhiều hơn so với các loại hình tín dụng khác. Mặt khác, KHCN vay vốn với mục đích tiêu dùng nhiều khi vượt quá mức thu nhập, hoặc tài sản đảm bảo có sự tranh chấp pháp lý.nên cho vay KHCN có nhiều nguy cơ xảy ra rủi ro hơn các loại hình cho vay khác.
Thứ ba, khả năng nhận biết rủi ro khó hơn. So với doanh nghiệp và tổ chức, việc thu thập thông tin về cá nhân khó hơn rất nhiều. Các thông tin của doanh nghiệp được kiểm toán, được cơ quan thuế kiểm tra. Trong khi đó các thông tin về cá nhân không có cơ sở để kiểm tra, đối chiếu vì vậy gây khó khăn trong công tác thu thập thông tin dẫn đến thiếu cơ sở cho việc xác định rủi ro.
Mặt khác, KHCN nhiều khi giấu thông tin, hoặc có sự thay đổi bất thường về tình hình thu nhập, tài sản bảo đảm, vị trí công việc.nên khả năng nhận biết rủi ro cũng khó khăn hơn các loại hình cho vay khác. Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Quản trị rủi ro tín dụng là một tập hợp các bước mà NHTM nên thực hiện thường xuyên, để đánh giá và giảm thiểu các mối nguy có trong quá trình cấp tín dụng. Quy trình này bao gồm các bước: a. Nhận diện rủi ro tín dụng Nhận diện rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.