CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH VAY VỐN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGẲN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan hoạt động cho vay cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Các khái niệm liên quan ỉ. ỉ Khái niệm ve quyết định vay von Theo Quan Minh Nhựt và Huỳnh Văn Tùng (2015) cho rằng “Quyết định vay vốn là một quá trình được diễn ra kể từ khi người đi vay hình thành ý thức về nhu cầu, đến khi tiến hành tìm hiểu thông tin để đưa ra quyết định vay, hoặc lặp lại quyết định vay vốn, trong đó quyết định vay vốn được xem là giai đoạn cuối cùng của quá trình”. Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được ban hành bởi Quốc hội ngày 16/06/2010 (Quốc Hội, 2010) “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Theo Điều 2 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Ngằn hàng Nhà nước, 2016) giải thích thuật ngữ “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ những khái niệm về cho vay vốn như trên, có thể hiểu “Cho vay cá nhằn là số tiền KHCN có thể vay để sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như trả các khoản nợ, mua hoặc sửa nhà, chi tiêu cá nhân.
Các khoản vay cá nhân này có thể được cung cấp bởi các ngân hàng, công đoàn tín dụng hoặc tổ chức khác, số tiền vốn vay phải được KHCN hoàn trả theo thời gian, thường kèm theo các khoản chi phí vay như lãi suất”.2 Quá trình ra quyết định vay vốn Nghiên cứu của Engel và cộng sự (1995) định nghĩa “Quá trình ra quyết định vay vốn là một quá trình liên tục từ giai đoạn trước khi vay vốn đến sau khi vay, bao gồm 5 giai đoạn: Nhận thức vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn, quyết định vay, hành vi sau khi vay” cồn theo Kotler (2003) mô tả “Quá trinh thông qua quyết định vay của KHCN diễn ra qua năm giai đoạn: Nhận biết vấn đề, tìm kiếm thông tin, đánh giá lựa chọn, ra quyết định vay, hành vi sau khi vay. Quá trình vay bắt đầu từ lâu trước khi vay thực tế và tiếp tục lâu sau đó.1 dưới đây: Hình 1.1 Quá trình ra quyết định vay vốn của KHCN Nguồn: Kotler (2003) Cụ thề đễ ra quyết định vay vốn, KHCN thường cân nhắc những vấn đề sau: - Nhận thức vấn đề: Trước khi vay vốn, khách hàng cần biết chính xác số tiền mong muốn vay để trang trải chi phí, lãi suất ước tính phải trả và các chi phí hên quan khác cũng như cân nhắc đầy đủ những lọi ích và rủi ro khi quyết định vay vốn. - Tìm kiếm thông tin: Khách hàng cần nắm rổ những thông tin cần thiết về việc vay vốn thông qua tự tim hiểu hoặc được tư vấn của người thân, bạn bè hay nhân viên ngân hàng. - Đánh giá lựa chọn phương án: Dựa vào nhũng thông tin có được, KHCN cần đánh giá những gói vay nào có đặc điểm phù hợp với bản thân.
- Quyết định mua: Sau khi cân nhắc và đánh giá các phương án vay vốn, KHCN sẽ ra quyết định có hay không có vay vốn tại ngân hàng. 7 - Hành vi sau khi mua: Chính là những phản hồi của khách hàng từ dịch vụ cho vay của ngân hàng có thỏa mãn nhu cầu của KHCN đó hay không.2 Đặc điếm về hoạt động cho vay Cho vay cá nhân có những đặc điểm chính sau đây: - Đối tượng cho vay chính là những cá nhân, hộ gia đình. có mong muốn đi vay để tiêu dùng, kinh doanh nhỏ lẻ hay đầu tư khác. - Thời hạn cho vay sẽ phụ thuộc vào mục đích vay vốn tưong ứng, thông thường sẽ có những hình thức cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn.
- Rủi ro cho vay mà các NHTM phải gánh chịu khi cung cấp dịch vụ cho vay KHCN thường rất cao, vì số lượng KHCN thường nhiều và có rất nhiều đặc điểm cá biệt. Điều này thường dẫn đến những tình huống phát sinh khác nhau mà NHTM khó có thể lường trước được. Do đó, để hạn chế và phân tán rủi ro từ cho vay KHCN, các NHTM sẽ gia tăng chi phí đi vay (lãi suất cho vay, bảo hiểm rủi ro. - Chi phí đi vay của KHCN là những chi phí khách hàng phải trả để có thể vay được vốn, thường sẽ gồm những khoản chi phí trả một lần để có được khoản vay như chi phí hồ sơ, thẩm định, bảo hiểm khoản vay.
và chi phí lãi vay. - Chi phí cho vay của ngằn hàng là những khoản chi mà NHTM phải chi trả để có thể cung cấp dịch vụ cho vay đến KHCN, chẳng hạn lương cho cán bộ tín dụng, chi phí khấu hao nhà cửa, trang thiết bị và các khoản chi phí bán hàng, tiếp khách khác.3 Vai trò của hoạt động cho vay - Đối với KHCN: Người tiêu dùng đôi khi phải chi trả những khoản phát sinh bất thường hoặc những khoản chi tiêu có giá trị lớn mà hiện tại không đủ tài chính để sử dụng. Khi đó, việc các NHTM cấp vốn vay sẽ giúp khách hàng giải quyết được vấn đề thiếu vốn đột xuất. Nhờ đó ngân hàng sẽ có được một khoản lợi nhuận từ việc cho vay.
8 - Đối với Ngân hàng: Cho vay KHCN làm tăng mối quan hệ khách hàng, tăng tính thanh khoản, đẩy mức cho vay từ KHCN cũng như tăng sự nhận diện thưong hiệu để tiếp xúc vói nhiều khách hàng khác hơn. - Đối với nền kinh tế: Cho vay và đi vay sẽ giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục vì tập trung huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo ra những nguồn vốn đầu tư lớn để đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, chiến thắng trong cạnh tranh. Ngoài ra, tín dụng góp phần nâng cao mức sống của người dân, giúp những người có thu nhập thấp có được nhà ở, phương tiện đi lại. thông qua đi vay vốn từ NHTM.4 Hình thức cho vay Các khoản cho vay cá nhân của NHTM có thể được bảo đảm hoặc không có bảo đảm: - Khoản vay có bảo đảm: Là khoản vay được đảm bảo bằng tài sản thế chấp (tài sản được sử dụng để trang trải khoản vay trong trường hợp KHCN không trả được nợ).
Các khoản vay có bảo đảm thường sẽ có hạn mức cho vay lớn hơn, thời gian trả nợ dài hơn và lãi suất thấp hơn. Vì khoản vay được đảm bảo bằng tài sản nên rủi ro mà NHTM phải đối mặt sẽ giảm đi. Trong trường hợp KHCN không trả được nợ, NHTM có thể sở hữu tài sản thế chấp và thanh lý chúng để trả số tiền còn thiếu. - Khoản vay không có bảo đảm (không yêu cầu tài sản thế chấp để vay tiền): Là khoản vay không có tài sản đảm bảo, thường cấp cho KHCN một hạn mức vay hạn chế, thời gian trả nợ ngắn hơn và lãi suất cao hơn.
Vì khoản vay không được đảm bảo bằng tài sản nên KHCN phải đối mặt với rủi ro gia tăng. Trong trường hợp KHCN không trả được nợ, NHTM có thể không thu hồi được số tiền còn nợ.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay khách hàng cá nhân 1.1 Các nhân tổ môi trường 1.1 Sự phát triển của nền kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng, tạo ra môi trường thuận lợi để mở rộng hoạt động cho vay. Bất cứ NHTM nào cũng chịu sự chi phối của các chu kì kinh tế và ngược lại. Sự tăng trưởng kinh tế và GDP có thể dẫn đến sự gia tăng tín dụng cho các doanh nghiệp hay cá nhân có nhu cầu để tài trợ cho việc mở rộng hon.
Khi các doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận được tín dụng, họ có thể đầu tư và mua hàng hóa và dịch vụ, góp phần vào tăng trưởng kinh tế chung. Ngoài ra, tín dụng có thể giúp các công ty mỏ rộng và thuê thêm nhân công, điều này cũng có thể góp phần vào tăng trưởng kinh tế.2 Pháp luật Neu NHTM có tất cả thông tin về khách hàng vay vốn và các biện pháp hữu hiệu khác để thay thế cho những quy định pháp luật mà có thể giúp NHTM ngăn chặn nguy co nợ xấu, vỡ nợ thì lúc này, những quy định pháp luật và những thay đổi về pháp luật sẽ không có tác động đến hoạt động cho vay của NHTM. Tuy nhiên đây là điều rất khó xảy ra, đặc biệt là đối với cho vay cá nhân vì sự đa dạng của các đối tượng KHCN. NHTM cần phải tuân thủ quy định pháp luật vì pháp luật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng cho vay của NHTM thông qua cung cấp sự bảo vệ về mặt pháp lý khi có bất cứ mối đe dọa nào xảy ra.
Pháp luật còn giúp bảo vệ NHTM ngăn chặn việc KHCN vay vốn nhưng không tuân thủ hợp đồng tín dụng, dẫn đến nợ xấu không thu hồi được, hay tạo điều kiện thuận lợi cho việc thế chấp tài sản, do đó giảm chi phí đại diện liên quan đến thông tin không hoàn hảo hoặc bất cân xứng. Tóm lai, các thể chế pháp luật mà tốt sẽ giải quyết được những vấn đề phát sinh liên quan đến cam kết của KHCN khi đi vay. 3 Cạnh tranh trong ngành KHCN luôn có mong muốn được tiếp cận nguồn vốn vay nhiều nhất với chi phí đi vay thấp nhất. Hiểu được tâm lý này, các NHTM luôn cải thiện những dịch vụ mà họ cung cấp để có thể tiếp tục duy trì những khách hàng hiện có và mở rộng thêm thị phần.
Tuy nhiên, khi mà số lượng KHCN là có hạng, và họ có những nhu cầu, mong muốn riêng cần được đáp ứng thì NHTM cung cấp được sể là lợi thế. Thậm chí KHCN hiện tại cũng có xu hướng vay vốn của NHTM khác. Vì vậy, ngoài việc tự nằng cấp chất lượng dịch vụ vay thì tìm hiểu về đối thủ cạnh tranh cũng là vấn đề mà NHTM cần quan tâm.2 Những nhân to thuộc về ngân hàng ỉ.