Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp ngành chăn nuôi tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành chăn nuôi tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam giai đoạn 2017-2020 Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng đối với các doanh nghiệp ngành chăn nuôi tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 9 CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHĂN NUÔI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm, đặc điểm tín dụng ngân hàng a. Khái niệm ngân hàng thương mại NHTM là một định chế tài chính với vai trò trung gian trong lưu thông tiền tệ, là trung gian thanh toán.
NHTM cũng là nơi nhận, thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ tất cả các thành phần trong nền kinh tế xã hội, bao gồm cả của cơ quan nhà nước… và sau đó cấp tín dụng, cho vay các đối tượng cá nhân, tổ chức, thành phần kinh tế… nhằm mục tiêu quan trọng là lợi nhuận. Đây chính là đặc trưng quan trọng để phân biệt NHTM với các TCTD, định chế tài chính, cho phép các NHTM huy động vốn gấp nhiều lần thực có để đưa vào các HĐKD của mình. Tóm lại, theo Luật các TCTD số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/06/2010, “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận” và “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là quan hệ giữa các bên khi vay mượn tài sản trong một khoản thời gian nhất định, mà trong thời kỳ kinh tế hàng hóa – tiền tệ phát triển thì tài sản được vay mượn chủ yếu là tiền tệ.
Khi thừa vốn tạm thời, người sở hữu tài sản có thể cho vay (đầu tư) lấy lãi, ngược lại, người đang thiếu hụt vốn có thể đi vay và trả lãi cho việc sử dụng vốn. Tuy nhiên trong thực tế, người dư thừa vốn và người thiếu hụt vốn ít có cơ hội trực tiếp tìm đến nhau, khó có khả năng thỏa mãn, đáp ứng được yêu cầu về loại tiền, số lượng, thời gian vay trả, lãi suất và đặc biệt là độ tin cậy lẫn nhau. Vì vậy, các TCTD, trong đó chủ yếu là các NHTM có thể đứng ra làm trung gian, thực hiện việc vay vốn từ người dư thừa vốn và cấp tín dụng cho người thiếu hụt vốn, đảm bảo luân chuyển vốn giữa các chủ thể kinh tế. 10 Luật các TCTD số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/06/2010 đưa ra khái niệm “tín dụng ngân hàng” là việc các TCTD, mà chủ yếu là các NHTM “thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Các thuật ngữ liên quan Cấp tín dụng: là “việc các TCTD thỏa thuận để khách hàng sử dụng hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền có hoàn trả, bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, bao thanh toán, mua, đầu tư trái phiếu DN, phát hành thẻ tín dụng, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác theo quy định của NHNN, bao gồm cả việc cấp tín dụng từ nguồn vốn của pháp nhân khác mà NHTM chịu rủi ro theo quy định của pháp luật”. Khách hàng: là pháp nhân, cá nhân hoạt động tại Việt Nam hoặc nước ngoài có nhu cầu cấp tín dụng tại NHTM, bao gồm: i) Pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam, pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài thuộc phân khúc KHDN; ii) Định chế tài chính phi TCTD được thành lập theo pháp luật Việt Nam, định chế tài chính phi TCTD được thành lập theo pháp luật nước ngoài; iii) Chủ DN tư nhân thuộc phân khúc KHDN được xét cấp tín dụng phục vụ nhu cầu của DN tư nhân. GHTD: là “số dư tín dụng tối đa một NHTM cấp cho khách hàng trong một thời kỳ bằng các nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, mua, đầu tư trái phiếu DN, phát hành thẻ tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác theo quy định của NHNN, bao gồm cả việc cấp tín dụng từ nguồn vốn của pháp nhân khác mà NHTM chịu rủi ro theo quy định của pháp luật và việc ủy thác cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác cấp tín dụng”. GHTD có bảo đảm: là “GHTD được bảo đảm đầy đủ bằng tài sản của khách hàng, bên thứ ba hoặc bảo lãnh của bên thứ ba”.
GHTD có bảo đảm một phần: là “GHTD không được bảo đảm đầy đủ bằng tài sản của khách hàng, bên thứ ba hoặc bảo lãnh của bên thứ ba”. 11 GHTD không bảo đảm: là “GHTD không được bảo đảm bằng tài sản của khách hàng, bên thứ ba hoặc bảo lãnh của bên thứ ba”. Hoạt động cấp tín dụng: là “việc giải ngân cho vay, mua, đầu tư trái phiếu DN, phát hành bảo lãnh, L/C, chiết khấu, thực hiện bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng và các hoạt động cấp tín dụng khác phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng cấp tín dụng”. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Các TCTD quyết định cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên những yếu tố: - Năng lực, uy tín, thiện chí của khách hàng - Tính khả thi của phương án kinh doanh - Bảo đảm tín dụng Thứ hai, tín dụng ngân hàng có tính thời hạn, người được cấp tín dụng phải hoàn trả vốn và lãi sau một khoảng thời gian nhất định. Thời hạn cấp tín dụng phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của khách hàng để đảm bảo người được cấp tín dụng có thể thực hiện nghĩa vụ đúng hạn. Thứ ba, tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên tắc sinh lời, tức là người được cấp tín dụng không chỉ trả vốn mà cần phải trả lãi cho ngân hàng. Khoản lãi này phải bù đắp được chi phí hoạt động, tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất kinh doanh của các TCTD.
Thứ tƣ, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao đối với các TCTD. Nguyên nhân là do thông tin bất cân xứng dẫn đến việc TCTD có thể không thu hồi được vốn. Thứ năm, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Phân loại tín dụng ngân hàng Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn - Tín dụng trung hạn - Tín dụng dài hạn Căn cứ vào bảo đảm tín dụng 12 - Tín dụng có bảo đảm - Tín dụng không có bảo đảm Căn cứ vào chủ thể vay vốn - Tín dụng DN (bán buôn) - Tín dụng cá nhân, hộ gia đình (bán lẻ) - Tín dụng cho các định chế tài chính Căn cứ vào phƣơng thức cấp tín dụng - Hạn mức - Từng lần 1.
Vai trò của tín dụng ngân hàng a. Đối với nền kinh tế Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Nếu không có tín dụng ngân hàng thì việc luân chuyển vốn giữa các chủ thể kinh tế sẽ bị ách tắc. Tín dụng ngân hàng giúp phân bổ một cách hiệu quả những nguồn lực tài chính trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng chính là công cụ điều tiết kinh tế xã hội của Nhà nước. Đối với khách hàng Tín dụng ngân hàng giúp đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng. Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DN. Tín dụng ngân hàng cũng là một thước đo mức độ uy tín của khách hàng.
Đối với ngân hàng Tín dụng ngân hàng đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Thông quan việc cấp tín dụng, ngân hàng phát triển thêm được các SPDV khác như mở tài khoản thanh toán, thu hút tiền gửi, chuyển tiền trong nước và quốc tế, mua bán ngoại tệ, … 1. PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGÀNH CHĂN NUÔI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm phát triển tín dụng của ngân hàng thƣơng mại “Phát triển” là “sự gia tăng liên tục của đối tượng nghiên cứu trong một thời kỳ nhất định”, thể hiện ở quy mô và tốc độ. Để “phát triển” gắn với “bền vững” thì 13 sự tăng trưởng này phải có chất lượng tốt.
Như vậy, “phát triển” có thể hiểu là “sự gia tăng về mọi mặt của một chủ thể, trong đó bao gồm sự tăng tiến cả về mặt chất và lượng”. Khi nói đến “phát triển tín dụng” là nói đến việc gia tăng quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng tại các NHTM. Để đánh giá về quy mô tín dụng, có thể đánh giá dựa trên dư nợ tín dụng, doanh số cấp tín dụng, số lượng khách hàng, đánh giá quy mô GHTD, quy mô từng khoản tín dụng, … Đối với chất lượng tín dụng, có thể đánh giá thông qua lợi nhuận mà các TCTD thu về được, mức độ đảm bảo bằng tài sản, các chỉ tiêu phản ánh về tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn, mức dự phòng rủi ro, từ đó cũng phản ánh được mức độ an toàn vốn, chất lượng phục vụ khách hàng. Chỉ tiêu phản ánh sự phát triển tín dụng của ngân hàng thƣơng mại a.
Chỉ tiêu định lƣợng Tăng trƣởng dƣ nợ tín dụng Chỉ tiêu dư nợ tín dụng phản ánh hoạt động tín dụng của TCTD trong một thời kỳ nhất định, thường tính theo năm tài chính. Dư nợ tín dụng có thể bao gồm dư nợ, số dư bảo lãnh, số dư L/C, số dư trái phiếu đầu tư, dư tín dụng khác. Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng giúp so sánh dư nợ tín dụng tại các thời điểm, thường là cuối quý, cuối năm để đánh giá việc mở rộng tệp khách hàng, khả năng cấp GHTD và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao thì TCTD càng hoạt động ổn định và hiệu quả, ngược lại thì TCTD đang gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng và thực hiện kế hoạch chưa hiệu quả.