Chương I GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi thường thiếu các định chế kinh tế hỗ trợ thị trường như bảo vệ đầy đủ quyền sở hữu và thực thi tính hiệu lực của hợp đồng. Kết quả là, các kênh tài trợ chính thức như các khoản vay ngân hàng không thể phát triển đầy đủ để đáp ứng nhu cầu của các công ty cho các vấn đề bên ngoài. Một quan điểm cho rằng, trong những trường hợp, tài trợ phi chính thức vẫn có thể phát triển vì nó chủ yếu dựa trên các mạng lưới phi chính thức mà chúng lại dựa trên các mối quan hệ lâu dài và uy tín. Do đó, các kênh tài trợ phi chính thức vẫn có khả năng cung cấp các nguồn tài trợ khác nhau cho các doanh nghiệp không có điều kiện tiếp cận thị trường tài chính chính thức để hỗ trợ tăng trưởng và mở rộng công ty.
Như vậy, tài trợ phi chính thức cũng nên đóng một vai trò then chốt trong việc duy trì hoạt động và tăng trưởng của công ty khi các định chế kinh tế yếu kém. Ngược lại, có quan điểm khác lại cho rằng kênh tài trợ phi chính thức như tín dụng thương mại không thể lắp đầy (bổ sung) cho các hình thức tài trợ chính thức, bởi vì các cơ chế giám sát và thực thi cần thiết cho các chức năng của tài trợ phi chính thức bị ảnh hưởng bất lợi nhiều hơn bởi các định chế kinh tế chính thức, và bởi vì tài trợ phi chính thức thông thường có quy mô giới hạn do đó nó không thể tiếp tục hỗ trợ việc mở rộng công ty. Vì thế, tiếp cận tài trợ chính thức vẫn là hình thức quan trọng hơn cho sự phát triển của công ty. Rõ ràng hai quan điểm cạnh tranh có ý nghĩa nổi bật khác nhau cho sự cần thiết và tính cấp thiết của việc thúc đẩy phát triển hệ thống tài chính chính thức ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi.
Mặc dù tầm quan trọng của câu hỏi này, rất ít các nghiên cứu có tính hệ thống đã được tiến hành. Việt Nam cung cấp một môi trường lý tưởng để điều tra về tầm quan trọng của tài trợ chính thức và phi chính thức. Ngay cả sau gần ba mươi năm cải cách kinh tế, các định chế kinh tế chính thống của Việt Nam vẫn ở mức trung bình. Kết quả là, các định chế ngân hàng Việt Nam đang xa dần là nguồn tài trợ chính thức cho các doanh nghiệp.
Tương tự như các tình huống của hầu hết các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi khác, các ngân hàng ở Việt Nam chủ yếu phục vụ nhu cầu tài chính của một nhóm nhỏ các công ty cao cấp như các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, trong khi hầu hết các công ty khác, đặc biệt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh, có rất ít điều kiện tiếp cận các khoản vốn vay ngân hàng. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) (2003), những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tài trợ từ bên ngoài như các khoản vay ngân hàng là một trở ngại nghiêm trọng chính gặp phải ở các doanh nghiệp tư nhân ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi ở châu Á. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp không được ưa chuộng này được cho là sử dụng rộng rãi các kênh tài trợ phi chính thức như tín dụng thương mại để đáp ứng nhu cầu tài trợ của họ (Allen, Qian (2005); Ayyagari, Demirguc-Kunt và Maksimovic (2008)). Các công ty ở nhiều nền kinh tế đang phát triển chưa đạt được mục tiêu của họ trong nhiều thập kỷ qua, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân hay các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường bị phân biệt đối xử trong các khoản vay ngân hàng.
Các công ty ở Việt Nam cung cấp một trường hợp thú vị để nghiên cứu. Khi Việt Nam hiện là quốc gia có nền tài chính vẫn còn chưa phát triển đồng đều giữa các vùng miền. Các công ty khác nhau về mẫu hình tài trợ của họ giữa vốn cổ phần hay phát hành nợ vay. Các vấn đề tài chính liên quan đến các doanh nghiệp Việt Nam là thú vị và đáng được quan tâm, bởi vì các công ty là ví dụ điển hình về rất nhiều đặc điểm hấp dẫn của một thị trường tài chính mới nổi mà nó khác với các thị trường tài chính phương Tây phát triển (Chan, Fung và Thapa (2007)).
Mặt khác, trong trường hợp rơi vào kiệt quệ tài chính, các doanh nghiệp được sở hữu bởi nhà nước ở Việt Nam có thể được giải cứu bởi chính phủ thay vì phá sản như những công ty tư nhân khác. Yếu tố nguồn tài trợ và lựa chọn nguồn tài trợ thật sự là một vấn đề đáng được quan tâm. Khi mà thị trường tài chính Việt Nam vẫn chưa thật sự phát triển và khả năng mà các doanh nghiệp đạt được mục tiêu của họ trong việc tối đa hoá giá trị doanh nghiệp hay tối thiểu hoá chi phí vẫn còn là một vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định tài chính cấp độ công ty hay chính phủ. Có chăng nên xem xét vấn đề tài trợ ở gốc độ chi tiết hơn mà ở đó tín dụng thương mại nội địa đã trở nên khá quen thuộc với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (đóng vai trò là cầu tín dụng thương mại) hay các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhà nước (đóng vai trò là nguồn cung tín dụng thương mại) với các hình thức tài trợ thông qua các định chế ngân hàng.
Và liệu trong khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu thì các doanh nghiệp thực sự có bị tác động về cấu trúc tài trợ mà chi tiết là giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng? Và nếu khủng hoảng thật sự có tác động đến các công ty tại Việt Nam thì liệu các công ty có thật sự nổ lực để tìm kiếm những giải pháp thật sự hiệu quả cho nguồn tài trợ thay thế hay các doanh nghiệp sẽ phải thực hiện tái cấu trúc để thích nghi hơn? Chính những điều đó, cho chúng tôi một động lực để nghiên cứu các công ty tại Việt Nam, mà cụ thể là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán HoSE có những khác biệt và những đặc trưng cụ thể gì trong bối cảnh trước, trong và sau khủng hoảng tài chính 2008-2009 và cũng thông qua đây là một nền tảng cơ bản để làm tiền đề cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về mối quan hệ tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng và tác động của chúng đối với hiệu quả hoạt động của các công ty tại Việt Nam.2 Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu này nhằm xem xét mối quan hệ giữa giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng theo các cách phân nhóm doanh nghiệp khác nhau: theo yếu tố quy mô, theo nhóm ngành công ty thuộc sở hữu nhà nước và công ty tư nhân và theo nhóm ngành sản xuất và nhóm ngành phi sản xuất của 103 công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh (HoSE) trong giai đoạn trước, trong và sau khủng hoảng. Đồng thời chúng tôi cố gắng tìm kiếm một sự khác biệt của các nhóm công ty khác nhau qua các mô hình hồi quy khác nhau để cố gắng giải thích tác động hay tương quan thống kê giữa phương pháp hồi quy dữ liệu bảng dùng Pooled OLS và Fixed – Effects.3 Câu hỏi nghiên cứu Dựa trên những mục tiêu nghiên cứu của đề tài đặt ra, bài nghiên cứu này đưa ra ba câu hỏi nghiên cứu quan trọng. Ba câu hỏi được chúng tôi đưa ra như sau: - Tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng có tồn tại tác động bổ sung và thay thế hiệu quả trong các công ty ở Việt Nam? Hay nói một cách khác đi là mối quan hệ gì giữa tín dụng ngân hàng và các khoản phải trả? Và giữa tín dụng ngân hàng và các khoản phải thu? - Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 đã tác động như thế nào đến cung cầu của các khoản phải thu, phải trả của các doanh nghiệp lớn và nhỏ, các ngành sản xuất và các ngành phi sản xuất, các công ty thuộc sở hữu nhà nước và công ty tư nhân? 1.4 Kết cấu của bài nghiên cứu Phần còn lại của luận văn này được trình bày theo kết cấu sau đây: Chương II: Tổng quan các nghiên cứu trước đây; Chương III: Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc trình bày việc xác định các biến nghiên cứu, cách thức xử lý dữ liệu, phương pháp phân chia mẫu dữ liệu theo quy mô của công ty, theo ngành hoạt động và theo hình thức sở hữu vốn và trình bày tóm tắt các thống kê mô tả, ma trận tự tương quan giữa các biến trong mô hình của bài nghiên cứu này; Chương IV: Trình bày các kết quả nghiên cứu theo hai phương pháp Pooled OLS và Fixed – Effects và đưa ra các thảo luận về các kết quả đạt được; Chương V: Trình bày tóm lược các kết quả nghiên cứu, nêu ra các hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. Chương II TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Giới thiệu về tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của các định chế tài chính như ngân hàng hoặc công ty tài chính hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa, dịch vụ hay bán hàng trả chậm chứ không phải trả ngay.
Có ba loại tín dụng thương mại: 1. Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu: Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu hay còn gọi là tín dụng xuất khẩu là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Tín dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thức chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản. Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu: tức là thương nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để nhận bộ chứng từ hàng hóa thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếp cho họ.
Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên bán và mua. Tuy nhiên để phòng tránh rủi ro, luật các nước thường can thiệp bằng cách định ra thời hạn cho loại tín dụng này.