Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản trị tín dụng tại Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Khu vực Hà Nội Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tín dụng lại Ngân hàng Thương mại c ổ phần Sài Gòn Thương Tín - Khu vực Hà Nội 4 CHƯƠNGI NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN CHUNG VỂ QUẢN TRỊ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động của Ngân hàng Thương Mại (NHTM) trong nền kinh tê thị trường.1 Khái niệm NHTM "" NHTM là một tô chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng một khối lượng tiền tệ đ ể cho vay và đẩu tư, thực hiện các dịch vụ ngân hàng” (15, trang 10). Trước đây ngân hàng thường được đánh giá như một tổ chức thực hiện quá trình phân phối thuần tuý với vai trò thiên về quản lý. Song thực tế ngân hàng là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường (KTTT).
Tuy ra đời muộn song đã nhanh chóng giữ vị trí tiên phong, chủ chốt đối với quá trình phát triên của sản xuất và lưu thông hàng hoá, đặc biệt điều đó thể hiện rõ nét hơn trong cơ chế thị trường. Ngày nay Ngân hàng đã được nhìn nhận và đánh giá đúng đắn hơn thông qua 2 hoạt động chủ yếu là: - Quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng bằng những chính sách ban hành: lưu thông tiền tệ, quản lý tiền mặt, ngoại hối, các chính sách tín dụng, chính sách lãi suất. - Hoạt động kinh doanh thông qua nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng. Từ hai hoạt động cơ bản trên, đã hình thành nên hai hệ thống Ngân hàng: Ngân hàng nhà nước (NHNN) và NHTM.
Sự đổi mới trong việc tổ chức và hoạt động của Ngân hàng là phù hợp với thực tế khách quan: một mặt tạo ra sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đối với hoạt động tiền tệ đê xây dựng một 5 nên tiên tệ ôn định và thực hiện tích luỹ cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước, mặt khác tạo điếu kiện phát huy cao độ vai trò đặc biệt của Ngân hàng đc phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Thực tế cho thấy rằng trong một nền kinh tế hiện đại, bất cứ một sự đầu tư nào muốn dảm bảo chắc chắn và đem lại hiệu qua kinh tê cao cũng đều cần có sự đảm bảo của NHTM. Như vậy sư ra đời của NHTM là một tất yếu khách quan đối với nền KTTT.2 Các chức năng chủ yếu của NHTM 1.1 Tạo tiền Một trong những chức năng chủ yếu của NHTM là tạo tiền và huỷ tiền. Chức năng tạo tiền xuất phát từ chính nhu cầu bên trong của mỗi NHTM riêng lẻ và sự tăng trưởng của toàn hệ thống, thông qua các hoạt động tín dụng, đầu tư và thanh toán.
Trong mỗi ngân hàng riêng lẻ, khả năng tạo tiền chỉ đạt từ trên một lần đến giữa hai lần tuỳ theo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Mỗi khoản tiền gửi của khách hang gưi vào ngân hàng, được ngân hàng lưu giữ tại quỹ nghiệp vu của ngân hàng, đồng thời phản ánh trên tài khoản của khách hàng. Sau đó khách hàng trích tài khoản thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt. Thông qua các bút toán này, dùng “tiền ghi sổ” và thanh toán chuyển khoản, để tạo ra một khoản tiền mới.
Đối với toàn hệ thống NHTM thì bội sô tạo tiền rất lớn. Một khoản tiền mặt gửi vào ban đầu của khách hàng là U l, NHTM đầu tiên này để lại dự trữ 10% chẳng hạn. Còn lại số tiền Ư2 bằng 90% (tức 9/10) số tiền UI đem cho vay hoặc thực hiện các bút toán thanh toán. Đến ngân hàng tiếp theo nhận được các giấy tờ thanh toán hoặc cho vay là Ư3 bằng 90% U2 nói trên.
Cứ thê, hệ thống NHTM đã tạo ra một bội số tiền tệ bằng tất cả ưl,U 2,U 3,.,U n so với khoản tiền gửi UI ban đầu. Tuy nhiên khi chuyển dịch như vậy, chúng cũng có giới hạn nhất định tức là khi n tiến tới vô cùng thì khoản tiền Un cũng tiến tới không(O). Tổng số 6 tiền mà hệ thống NHTM tạo ra đã là một con số rất lớn, tính theo công thức của một cấp số nhân lùi vô hạn ta có: Sn = ư l + U2+.+ Un = U l ( l - q n)/(l-q) (1) Khi n —►00, giả sử q = 10% = 1/10, tức q<l thì qn —►0 UI Công thức (1) trở thành Sn = 1-q Sn Rõ ràng, nêu dự trữ cúa môi ngân hàng là 10% sô tiền gửi mới, thì toàn bộ hệ thống NHTM đã tạo ra một khoản tiền gấp 10 lần khoản tiền gửi ban đầu. Chức năng tạo tiền làm cho các NHTM có khả năng đẩy nền kinh tế phát tnên quá nóng và ngược lại, huỷ tiền gây thiểu phát, gây khó khăn cho tăng trưởng kinh tế.
Chức năng tạo tiền có liên quan đến tổng khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế phù hợp với chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Vì vậy các nhà khoa học coi chức năng này là chức năng số một của NHTM.2 Thanh toán Sự vận động vốn trong phạm vi toàn quốc và phạm vi toàn cầu đòi hỏi phải có sự thống nhất và quốc tế hoá cao độ giữa chức năng thước đo giá trị chức năng phương tiện lưu thông trong nền KTTT hiện đại. Vì vậy phát huy chức năng thanh toán của NHTM có liên quan đến việc cung ứng tổng khối lượng thanh toán cho toàn xã hội, một tác nhân của tăng trưởng kinh tế. 7 Chức năng thanh toán là chức năng cổ truyền của NHTM.
Ngày nay những sản phẩm hiện đại của nó là những tấm các điện tử, những tấm mica thay cho vàng bạc châu báu, thay cho tiền tệ, là do sự phát triển của chức năng này.3 Tín dụng Phạm trù tín dụng trở thành chức năng của NHTM ngay từ thuở ngân hàng chào đời. Tín dụng theo nghĩa đơn giản là cho vay. Các nhà khoa học kinh tế đã coi ngân hàng là một ngành công nghiệp, thì việc cung ứng tín dụng được coi như việc thực hiện một trong các “sản phẩm” chủ yếu, một “sản phẩm gián tiếp”, sản phẩm này đem ra tiêu dùng sẽ tạo ra việc làm, tạo ra sản phẩm xã hội do khai thác tài nguyên. Trong nền KTTT, đại bộ phận quỹ cho vay tập trung qua ngân hàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các doanh nghiệp và cá nhân.
Tín dụng ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doang nghiệp và cá nhân mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản, đổi mới cải tiến kỹ thuật công nghệ sản suất. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Như vậy, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế rất linh hoạt và kịp thời.4 Cung ứng cúc dịch vụ Ngân hàng Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang có tác động sâu rộng tới tất cả các lĩnh vực thì trào lưu hội nhập vào những xu thế của nền kinh tế thế giới là tất yếu. Với tư cách là một định chê tái chính đặc biệt, hệ thống ngân hàng trong thời gian qua đã không ngừng đổi mới để tiệm cận những tiêu chuẩn quốc tế.
Một trong những tiêu chuẩn đó chính là khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng tới người dân. Quá trình cung ứng dịch vụ được đẩy mạnh sẽ làm giảm xu thế dùng tiền mặt trong các quan hệ hằng ngày hay trong các giao dịch kinh tế. 8 Điều đó cũng giúp cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng thay đổi theo hướng tích cực, giảm dần tỉ trọng đóng góp của tín dụng có tính rủi ro cao. NHTM cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp và cá nhân những loại dịch vụ thông thường và thanh toán chuyển tiền uỷ thác, tư vấn đầu tư, mua trả góp, các dịch vụ lữ hành.
Ngày nay hiện đại hơn là các loại thẻ điện tử, máy rút tiền tự động, dịch vụ chứng khoán, các dịch vụ ngân hàng tại gia, thẻ séc.Chức năng này trong nền K T ĨT phát huy hơn bao giờ hết. Tóm lại bốn chức năng chủ yếu nói trên quyết định sự tồn tại và phát triển của NHTM.2 Hoạt động tín dụng tại NHTM 1.1 Khái niệm tín dụng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ Latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau: • Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm, thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch vốn từ người cho vay sang người đi vay (13, trang 7).
• Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên co sở có sự hoàn trả giữa hai chủ thể. Như một công ty công nghiệp hoặc thương mại bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này, người bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất định, theo thoa thuận, bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biên hơn cả là giao dịch giữa ngân hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền cho bên đi vay và sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi (13, trang 7). 9 • Tín dụng còn được hiểu là sự bảo lãnh của bên thứ ba thường được gọi là tín dụng bằng chữ ký, như việc ngân hàng mở thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng theo yêu cầu của nhà nhập khẩu hoặc các loại bank guarantee khác (13, trang 7).
• Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng (13, trang 8).