Chương I: Tổng quan về văn học dân gian hiện đại và tục ngữ người Việt thời hiện đại 1.1 Nhận diện xã hội Việt Nam hiện đại.2 Nhận diện VHDG hiện đại và tục ngữ người Việt thời hiện đại. Chương II: Những nội dung cơ bản của tục ngữ người Việt thời hiện đại 2.1 Tục ngữ đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và phản ánh những mối quan hệ, cung cách ứng xử của người Việt thời hiện đại 2.2 Tục ngữ phản ánh diện mạo của cuộc sống và con người thông qua các thời kì lịch sử 2.3 Tục ngữ chế giễu, phê phán những thói hư, tật xấu. Chương III: Phương thức sáng tạo và nghệ thuật chủ yếu của tục ngữ người Việt thời hiện đại 3. 1 Phương thức sáng tạo 3.
Về từ ngữ, ngữ nghĩa 3.Biện pháp tu từ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN HIỆN ĐẠI VÀ TỤC NGỮ NGƢỜI VIỆT THỜI HIỆN ĐẠI 1.1 Nhận diện xã hội Việt Nam thời hiện đại.1 Thời điểm xuất hiện: Theo cách định nghĩa của từ điển tiếng Việt thì “hiện đại” là thuộc thời đại ngày nay hay có tính chất tinh vi trong công nghệ máy móc. Còn “hiện đại hoá” là cách tân làm cho mang tính đổi mới, là cho có tính chất tinh xảo, đầy đủ tiêu chuẩn của một nền khoa học tiến bộ nhất. Xã hội Việt Nam đã trải qua nhiều hình thái nhưng thời điểm để đánh dấu một xã hội hiện đại thì cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất của các nhà nghiên cứu, đây vẫn còn là vấn đề tranh luận. Trong khoa sử học, sách giáo khoa của học sinh trung học phổ thông (Lớp 11 ban Cơ bản) đã giảng giải như sau: “Không kể thời cổ đại thì từ Cách mạng tư sản Anh trở về trước là lịch sử trung đại; từ Cách mạng Anh tới công xã Pari (1871) là lịch sử cận đại; sau công xã Pari lịch sử bước sang một trang mới là lịch sử hiện đại.
Đây là phác đồ chung của lịch sử thế giới còn trong từng nước lại có sự xác định cụ thể” (Trích dẫn theo Vương Trí Nhàn, tác phẩm "Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005) Thời cận đại của lịch sử xã hội Việt Nam được đánh dấu từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta năm 1858 đến CMT8/1945. Trước CMT8/1945 đất nước ta đã gắn với chế độ quân chủ của nhà nước phong kiến gần 1000 năm. Triều đình phong kiến mà đứng đầu là nhà vua và dưới đó là hệ thống quan lại ở các cấp tổng, huyện, tri, phủ, xã, làng… Những tư tưởng, quan niệm phong kiến ăn sâu vào đời sống tinh thần và chi phối tư duy để làm nên hệ tư tưởng của nhân dân. Thời xã hội phong kiến các thể loại văn học dân gian cũng có sự nở rộ đặc bịêt là truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cưòi, ca dao, tục ngữ…Các tác phẩm VHDG đã phản ánh tri thức văn hoá nông nghiệp, sự đấu tranh giai cấp nông dân với địa chủ, khát vọng đổi đời.
Được đúc kết trải qua quá trình hàng nghìn năm này, tục ngữ thực sự trở thành túi khôn của tri thức dân gian, những đặc tính và giá trị của tục ngữ cổ truyền đã được khẳng định. Năm 1858 thực dân Pháp sang xâm lược nước ta nhưng vẫn duy trì chế độ triều đình vua và bội máy quan lại phong kiến để làm bù nhìn, tay sai. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực dân pháp đã áp dụng những chính sách tàn bạo, dã man như chia để trị, đất nước ta bị chia làm ba kì Bắc – Trung- Nam, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong biển máu, bóc lột nhân dân ta đến tận xương tuỷ. Chúng bóp nghẹt cuộc sống của nhân dân ta cả về kinh tế và chính trị.
Tất nhiên sự xuất hiện của thực dân Pháp trên lãnh thổ nước ta cũng đã mang theo những yếu tố hiện đại. Trước đó nền văn hoá của nước ta chịu ảnh hưởng nhiều từ phương Đông mà tác động mạnh mẽ nhất là từ Trung Hoa nhưng thời kì này những yếu tố của văn hoá phương Tây đã bắt đầu có sự xâm nhập vào xã hội Việt Nam làm thay đổi nếp cảm, nếp nghĩ của người Việt. Xã hội xuất hiện thêm nhiều tầng lớp, giai cấp bên cạnh địa chủ, nông dân đã xuất hiện công nhân, tiểu tư sản, đời sống văn hoá văn nghệ cũng khác trước báo in, sách truyện được xuất bản và những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến VHDG. Nhưng nhìn chung diện mạo xã hội vẫn chưa mang tính đột phá, ở thời kì này Nho giáo vẫn giữ địa vị chính, tư tưởng phong kiến vẫn thâm canh cố đế trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt.
CMT8/1945 được coi là dấu mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, nó mở ra một trang huy hoàng gắn liền với độc lập, tự chủ. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đem đến cho nhân dân ta một cuộc sống mới, tự do, bình đẳng, bác ái. Diện mạo của đất nước đã thay đổi, nhân dân được làm chủ. Nhiều ý kiến đã thống nhất khi cho rằng xã hội Việt Nam hiện đại có thể lấy thời điểm bắt đầu từ CMT8/ 1945 và chúng tôi đồng ý với quan điểm trên.
Nhận diện đặc trưng của xã hội Việt Nam hiện đại Có thể thấy đặc trưng rõ nét nhất để nhận diện xã hội Việt Nam hiện đại chính là sự thay đổi của thể chế chính trị. Sau CMT8/ 1945 đất nước được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản đã phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong công cuộc chèo lái con thuyền đất nước qua những cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ để thống nhất dân tộc, xây dựng đời sống mới cho nhân dân và kiến thiết đất nước. Nhà nước XHCN được xây dựng trong mối dây liên hệ chặt chẽ của giai cấp công - 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nông - binh. Nhân dân được tự do nói lên tiếng nói của mình và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước “dân biết- dân bàn- dân làm-dân kiểm tra”.
Trên phương diện tư tưởng, mối quan hệ và tầm ảnh hưởng cũng khác trước. Thời trước CMT8/ 1945 chúng ta chiụ ảnh hưởng sâu đậm của hệ tư tưởng phong kiến Nho giáo của Trung Hoa. Khi thực dân Pháp sang xâm lược các yếu tố văn hoá và tư tưởng phương Tây có xâm nhập nhưng do chủ trương, đường lối cai trị, áp bức theo kiểu “ngu dân” nên những ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn tích cực. Sự thắng lợi cuả CMT8/1945 không chỉ hình thành nên một nhà nước mới mà còn hình thành hệ tư tuởng mới, đó cũng là một cuộc cách mạng về tư tưởng.
Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính chính thống và có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi vấn đề của cuộc sống. Sau CMT8/1945 do những điều kiện chiến tranh chống kẻ thù xâm lược và đặc thù về chính trị nên ở từng thời kì có sự thay đổi quyết sách ngoại giao vì vậy những mối quan hệ và tầm ảnh hưởng văn hoá cũng có nhiều biến động. Trong hai cuộc kháng chiến chúng ta chủ yếu kết tình anh em với các nước xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ còn có phần hạn hẹp nên tầm ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai chưa nhiều. Thời kì đổi mới Đảng và nhà nước chủ chương bắt tay, làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, xã hội Việt Nam mở cửa “hoà nhập” nhưng cũng cố gắng để không “hoà tan”.
Người Việt ý thức rõ trách nhiệm phải giữ gìn bản sắc dân tộc bên cạnh đó cũng cần phải tiếp thu những tinh hoa của văn hoá nhân loại, thế giới. Những điều kiện xã hội này sẽ có tác động và tầm ảnh hưởng sâu sắc đến văn học nói chung và VHDG nói riêng bởi xã hội hiện đại chính là không gian sinh tồn của văn hóa nghệ thuật. Xã hội Việt Nam hiện đại cũng gắn liền với những giai đoạn phát triển. - Giai đoạn chiến tranh cách mạng (từ năm 1945 đến năm 1975): Với truyền thống yêu nước, chống ách thống trị của thực dân sau khi giành được chính quyền cả dân tộc lại phải tiến hành hai cuộc kháng chiến liên tiếp chống Pháp và chống Mĩ.
Hai cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm và trong suốt thời gian đó cả dân tộc đã “đồng tâm hiệp lực” để hướng đến mục tiêu hoà bình thống nhất đất nước. Chính quyền non trẻ lúc này phải đối mặt với nhiều thách thức như giặc đói, giặc dốt. Trong hoàn cảnh mới của đất nước gắn với cuộc đấu tranh cách mạng, tinh thần 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân tộc tương thân tương ái được khơi dậy “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, phong trào bình dân học vụ đã đem đến ánh sáng tri thức cho hơn 90% dân số trước đó còn mù chữ. Hơn lúc nào hết tinh thần và sức mạnh của cả dân tộc đã được phát huy trên mọi mặt trận để “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” và Tiếng hát át tiếng bom”.
Thời kì này đất nước cũng trải qua những phen sóng gió nhưng Đảng Cộng sản đã vững tay chèo lái con thuyền đất nước chống lại những tên đế quốc, thực dân sừng sỏ trên thế giới và cập đến bến bờ độc lập, thống nhất. Tất nhiên trong một số thời điểm nhất định Đảng cộng sản cũng có những quyết sách sai lầm do nôn nóng, duy ý chí như vấn đề cải cách ruộng đất những năm từ 1954-1956. Nhưng chỉ một thời gian rất ngắn sau đó năm 1957 chính Đảng đã nhìn thẳng vào sự thật để sửa chữ khuyết điểm qua thông tư 12. Một Đảng cầm quyền biết nhìn thẳng vào sự thật để sửa chữa khuyết điểm, tồn tại là Đảng tiến bộ.
- Giai đoạn thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ năm 1975 đến nay) bao gồm hai thời kì: * Thời kì chế độ kinh tế bao cấp (từ năm 1975 đến năm 1986): Xét trên một phương diện nào đó chế độ kinh tế bao cấp đã ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Việt Nam. Nhưng điều quan trọng là Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn ra những sai lầm và khuyết điểm tồn tại để khắc phục để nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ.