Luận án Tiến sĩ về Tiểu thuyết V. Naipaul từ Lí thuyết Đa văn hoá

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiểu thuyết v s naipaul từ lí thuyết đa văn hoá, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Văn học nước ngoài

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1. Nghiên cứu văn học từ lí thuyết Đa văn hoá

1.2. Văn hoá và hướng phê bình văn học từ văn hoá

1.3. Đa văn hoá, từ các nhà dân tộc học đầu thế kỉ XX đến nay

1.4. Đa văn hoá trong văn học

1.5. Đa văn hoá từ Edward Said đến Stuart Hall, Doreen Massey và Ander Hanberger

1.6. Nghiên cứu về V. Naipaul từ lí thuyết Đa văn hoá

1.7. Tài liệu tiếng Việt

1.8. Tài liệu tiếng Anh

2. CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TRONG TIỂU THUYẾT V.NAIPAUL NHÌN TỪ LÍ THUYẾT ĐA VĂN HOÁ

2.1. Không gian nhìn từ lí thuyết Đa văn hoá

2.2. Không gian sinh hoạt đậm chất truyền thống đa dạng của Trinidad và Tobbago

2.3. Không gian văn hoá lịch sử đầy biến động của châu Phi

2.4. Không gian lữ thứ tại vương quốc Anh

2.5. Thời gian nhìn từ lí thuyết Đa văn hoá

2.6. Thời gian gắn với hành trình đi tìm bản ngã

2.7. Thời gian lịch sử và những va chạm văn hoá

2.8. Thời gian ngưng đọng và những trăn trở thời cuộc

3. CHƯƠNG 3: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT V.NAIPAUL NHÌN TỪ LÍ THUYẾT ĐA VĂN HOÁ

3.1. Cội rễ Đa văn hoá trong thế giới nhân vật

3.2. Kiểu nhân vật hoà nhập

3.3. Bà Tulsi – đại diện cho sự dung hợp tôn giáo

3.4. Những đứa con dòng họ Tulsi – vâng lời và phục tùng

3.5. Kiểu nhân vật dấn thân - chủ động đi tìm bản ngã

3.6. Nhân vật Tôi trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và sự nghiệp

3.7. Nhân vật ông Biswas trong cuộc đấu tranh tìm kiếm bản ngã

3.8. Nhân vật Indar trong hành trình truy tìm bản thể

3.9. Kiểu nhân vật bên lề

3.10. Salim, người quan sát ngoại đạo

3.11. Cha Huisman, kẻ đứng ngoài “đeo” mặt nạ

4. CHƯƠNG 4: BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT V.NAIPAUL GẮN VỚI BA MÔ HÌNH ĐA VĂN HOÁ

4.1. Biểu tượng – sự kết tinh Đa văn hoá

4.2. Khái niệm biểu tượng

4.3. Quan điểm tiếp cận biểu tượng trong tiểu thuyết Naipaul

4.4. Các biểu tượng trong tiểu thuyết V

4.5. Dòng sông – biểu tượng của quá trình đồng hoá văn hoá

4.6. Ngôi nhà – biểu tượng của sự pha trộn văn hoá

4.7. Bức tranh và khu vườn – biểu tượng của sự chung sống văn hoá

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tiểu thuyết V

Tiểu thuyết của V. Naipaul không chỉ đơn thuần là những câu chuyện mà còn là những tác phẩm phản ánh sâu sắc các vấn đề văn hóa đa dạng. Tác phẩm của ông thể hiện sự giao thoa giữa các nền văn hóa, từ đó tạo nên một bức tranh phong phú về nhân loại. Lí thuyết đa văn hóa giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách mà Naipaul khai thác các yếu tố văn hóa trong tác phẩm của mình.

1.1. V. Naipaul và bối cảnh văn hóa đa dạng

V. Naipaul, nhà văn gốc Trinidad, đã sống trong một môi trường đa văn hóa. Sự kết hợp giữa văn hóa Caribe, văn hóa Ấn Độ và văn hóa Anh đã tạo nên một nền tảng vững chắc cho các tác phẩm của ông. Điều này giúp Naipaul thể hiện những khía cạnh đa dạng của nhân loại trong các tác phẩm của mình.

1.2. Lí thuyết đa văn hóa trong nghiên cứu văn học

Lí thuyết đa văn hóa cung cấp một khung lý thuyết để phân tích các tác phẩm văn học. Nó cho phép người nghiên cứu nhìn nhận các tác phẩm từ nhiều góc độ khác nhau, từ đó làm nổi bật những giá trị văn hóa phong phú mà tác giả muốn truyền tải.

II. Những thách thức trong việc nghiên cứu tiểu thuyết V

Việc nghiên cứu tiểu thuyết của V. Naipaul gặp nhiều thách thức do sự phức tạp trong cách ông thể hiện các vấn đề văn hóa. Các tác phẩm của ông thường chứa đựng nhiều lớp nghĩa, đòi hỏi người đọc phải có kiến thức sâu rộng về văn hóa và lịch sử. Điều này tạo ra khó khăn trong việc tiếp cận và phân tích tác phẩm.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận văn hóa đa dạng

Mỗi tác phẩm của Naipaul đều mang trong mình những yếu tố văn hóa đặc trưng. Việc hiểu rõ các nền văn hóa khác nhau là điều cần thiết để có thể phân tích sâu sắc các tác phẩm của ông.

2.2. Sự phức tạp trong ngôn ngữ và phong cách viết

Ngôn ngữ và phong cách viết của Naipaul thường mang tính chất đa dạng và phong phú. Điều này có thể gây khó khăn cho người đọc trong việc hiểu và cảm nhận đúng ý nghĩa mà tác giả muốn truyền tải.

III. Phương pháp nghiên cứu tiểu thuyết V

Để nghiên cứu tiểu thuyết của V. Naipaul, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với lí thuyết đa văn hóa. Các phương pháp này giúp làm rõ những đặc trưng văn hóa trong tác phẩm và tạo ra cái nhìn sâu sắc hơn về nhân vật và bối cảnh.

3.1. Phương pháp phân tích văn bản

Phân tích văn bản là một trong những phương pháp quan trọng giúp làm rõ các yếu tố văn hóa trong tác phẩm. Qua việc phân tích ngôn ngữ, hình ảnh và biểu tượng, người nghiên cứu có thể khám phá những lớp nghĩa sâu sắc trong tác phẩm của Naipaul.

3.2. Phương pháp so sánh và đối chiếu

So sánh và đối chiếu các tác phẩm của Naipaul với các tác phẩm khác trong cùng thời kỳ giúp làm nổi bật những đặc trưng văn hóa và phong cách viết của ông. Điều này cũng giúp người đọc nhận ra sự khác biệt và tương đồng giữa các tác giả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lí thuyết đa văn hóa trong tiểu thuyết V

Lí thuyết đa văn hóa không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tiểu thuyết của V. Naipaul mà còn có thể áp dụng vào việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Việc áp dụng lí thuyết này giúp sinh viên và người nghiên cứu có cái nhìn đa chiều về các tác phẩm văn học.

4.1. Tăng cường khả năng phân tích văn học

Việc áp dụng lí thuyết đa văn hóa giúp sinh viên phát triển khả năng phân tích văn học một cách sâu sắc hơn. Họ có thể nhận diện và đánh giá các yếu tố văn hóa trong tác phẩm một cách hiệu quả.

4.2. Khuyến khích nghiên cứu liên ngành

Lí thuyết đa văn hóa khuyến khích nghiên cứu liên ngành, từ đó mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề văn hóa, xã hội và lịch sử. Điều này giúp tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn về văn học.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu tiểu thuyết V

Nghiên cứu tiểu thuyết của V. Naipaul từ lí thuyết đa văn hóa mở ra nhiều hướng đi mới cho nghiên cứu văn học. Những giá trị văn hóa phong phú trong tác phẩm của ông cần được khám phá và làm rõ hơn trong tương lai. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về tác giả mà còn góp phần vào việc phát triển lí thuyết đa văn hóa trong nghiên cứu văn học.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu V. Naipaul

Nghiên cứu V. Naipaul không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm của ông mà còn góp phần vào việc phát triển lí thuyết đa văn hóa trong văn học. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về văn hóa và xã hội.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu văn học

Tương lai của nghiên cứu văn học cần hướng đến việc áp dụng lí thuyết đa văn hóa một cách sâu sắc hơn. Điều này sẽ giúp tạo ra những cái nhìn mới mẻ và phong phú về các tác phẩm văn học, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ tiểu thuyết v s naipaul từ lí thuyết đa văn hoá

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Nghiên cứu văn học từ lí thuyết Đa văn hoá 1. Văn hoá và hướng phê bình văn học từ văn hoá Để hiểu định nghĩa Đa văn hoá, trước hết ta cần đi tìm khái niệm văn hoá. Đây là một thuật ngữ có nội hàm rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực như truyền thông, tôn giáo, hành vi ứng xử, nghệ thuật,… trong đó mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.

Thuật ngữ văn hoá, xuất phát từ tiếng Latinh là “cultura”, bắt nguồn từ “cultus” nghĩa là canh tác, gieo trồng ruộng đất (cultus agri) và gieo trồng tinh thần (cultus animi) rồi chuyển nghĩa để tạo ra “culture” từ thế kỉ 18 ở phương Tây. Kể từ đó đến nay, định nghĩa văn hoá đã phát triển theo nhiều chiều hướng đa dạng, “có đến hàng trăm, từ các trường phái nhân văn như Dilthey, Casirrer, Arnold, T. Eliot… đến trường phái thực chứng như Taylor, Malinowski, Boas, Kroeber, Benedict, Durkheim…” [7,15]. Trong số hàng trăm định nghĩa ấy, thì định nghĩa đóng vai trò nền móng cho khoa học về nhân chủng của Edward Burnett Tylor trong cuốn sách Văn hoá nguyên thuỷ (Primitive culture) xuất bản năm 1871, là định nghĩa được công nhận rộng rãi nhất, khẳng định văn hoá “một phức hệ bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán, và bất cứ năng lực nào khác của con người với tư cách là một thành viên của xã hội” [8,1].

Như vậy, văn hoá chính là một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin được bảo tồn theo truyền thống. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm chỉ ra bốn đặc trưng cơ bản của khái niệm văn hoá: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Từ bốn thuộc tính đó, văn hoá được định nghĩa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [9,27]. Tựu trung, các định nghĩa trên đều thống nhất ở những đặc điểm phổ quát của văn hoá là: tính hệ thống, tính đa dạng và tính kế thừa.

Trong khuôn khổ của luận án này, chúng tôi hiểu văn hoá là một hệ thống hay tập hợp các giá trị và chuẩn mực của một cộng đồng, và có tính phát triển, kế thừa theo thời gian. Do vậy, văn hoá có chức năng tổ chức xã hội, chức năng thúc 8 đẩy xã hội và chức năng giáo dục trong sự phát triển, tương tác, giao thoa, dẫn đến Đa văn hoá và Liên văn hoá… Sự ra đời và phát triển của mỗi loại hình nghệ thuật đều gắn với những đặc trưng, bản sắc riêng. Tuy vậy, dưới góc nhìn so sánh liên ngành, có thể thấy các lĩnh vực ấy có mối liên hệ mật thiết với nhau; thậm chí, chúng không ngừng phá vỡ đường biên để giao thoa, thâm nhập vào nhau. Giữa văn chương và văn hoá cũng có một mối duyên lâu đời và gần gũi như vậy.

Việc tiếp cận và phê bình văn học từ hướng văn hoá không phải là mới, không thể không kể đến trường phái phê bình văn hoá lịch sử của nhà nghiên cứu người Pháp, Hippolyte Taine (1828-1893), trong đó ông đã coi ba nhân tố quy định tính chất của tác phẩm văn chương bao gồm: chủng tộc, môi trường và thời điểm. Trong một thời đại nhất định, tất cả các sáng tác văn học không nằm ngoài sự chi phối của ba yếu tố trên. Các trường phái nghiên cứu văn hoá đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, khởi đầu với trường phái Birmingham ở Anh, đại diện là Rochard Hoggart và Stuart Hall, trong khoảng thập niên 60, 70 của thế kỉ trước. Nhóm Birmingham đưa ra các quan điểm phê bình cho việc phân tích, diễn giải và phê bình các di sản văn hoá, kết hợp với lí thuyết xã hội học và so sánh bối cảnh khi phê bình văn học các văn bản văn hoá.

Hướng nghiên cứu này ở Đức có trường phái Frankfurt, và ở Pháp có Roland Barthes vào những năm 1970. Một lí thuyết khác đáng chú ý trong nghiên cứu văn chương và văn hoá là lí thuyết đa hệ thống hoặc Lí thuyết hệ thống đa hợp (Polysystem theories). Đây là lí thuyết xuất phát từ ý tưởng về một nền văn hoá động, do giáo sư Itamar Even- Zohar làm việc tại đại học Tel Aviv, Israel đề xuất. Khi đề cập tới thuộc tính / sở hữu chung của đa hệ thống, ông cho rằng khái niệm về hệ thống là khái niệm năng động, không thuần nhất, “nhấn mạnh tính đa bội của các giao cắt và sau đó là tính phức tạp hơn của kết cấu đi kèm” [10,31].

Trong đó, sự sắc nhạy của cái đa tạp trong văn hoá được thể hiện rõ nhất trong một cộng đồng dùng ba hoặc đa ngôn ngữ. Trong phạm vi văn chương, thì đó là khi cộng đồng sở hữu hai hoặc nhiều hơn hai “nền văn học”. Theo quan điểm của Zohar, trong đa hệ thống luôn tồn tại nhiều hệ thống không đồng đẳng mà phân tầng bậc. Ông chỉ ra rằng “Cuộc đấu tranh vĩnh cửu giữa 9 các cơ tầng khác nhau, tạo nên trạng thái đồng đại (động) của hệ thống.

Chính chiến thắng của cơ tầng này đối với cơ tầng kia sẽ tạo nên sự thay đổi trên trục lịch đại” [10,87]. Trong cuốn Polysystem studies xuất bản năm 1990, ông đã mượn sơ đồ giao tiếp của Roman Jakobson để vẽ lại sơ đồ hệ thống văn chương bao gồm các hoạt động văn chương và mối quan hệ giữa chúng như sau: Kho thể tài (quy tắc) Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống văn chương trích dẫn từ Lí thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hoá, văn chương của Even-Zohar. Một trong những đóng góp chính của lí thuyết đa hệ thống là chuyển mối quan tâm từ nền văn hóa nguồn (gốc) sang nền văn hóa tiếp nhận (đích) bằng cách truy tìm những cơ chế chọn lọc các tác phẩm cũng như những chuẩn mực dịch thuật. Lí thuyết đa hệ thống của Evan-Zohar đã phân tích các tập hợp quan hệ trong văn học và ngôn ngữ, được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn học và văn hóa, đặc biệt ở Tây Ban Nha và Trung Quốc.

Học giả người Mĩ Edwin Gentzler cũng ủng hộ lí thuyết này trong nghiên cứu dịch thuật [11,85]. Như vậy lí thuyết của Evan-Zohar nghiêng về phương thức tiếp cận đối tượng, là mô thức tư duy hướng tới đối tượng. Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi có tìm hiểu lí thuyết này nhưng thấy chưa thực sự phù hợp với nghiên cứu Đa văn hoá trong tiểu thuyết của V. Naipaul bởi lẽ Đa văn hoá thuộc về đặc tính của văn hóa nhiều hơn.

Hướng phê bình văn học từ văn hoá đã được công nhận rộng rãi, nhờ tính khoa học và chân xác trong việc nhìn nhận, đánh giá một tác phẩm văn học. Mỗi tác phẩm là “một chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ tái hiện đời sống tinh thần của các dân tộc, như là một trong những sản phẩm kết tinh cao nhất của văn hoá một tộc người, một đất nước” [12,11]. Trong bài Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hoá, Đỗ Lai Thuý đã chỉ ra các ưu điểm của phương pháp này là “dẫn nhà phê bình (cũng như người đọc) đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ cái biết nhiều đến cái biết ít, từ cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy khoa học” [1]. Ở Việt 10 Nam đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu văn chương theo hướng này, như Nguyễn Du và Truyện Kiều của Trương Tửu, Từ góc nhìn văn hoá đến các mã nghệ thuật trong văn bản cổ đại Việt Nam của Nguyễn Huệ Chi, Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hoá của Lê Nguyên Cẩn, Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hoá của Đỗ Lai Thuý, Phương pháp tiếp cận văn hoá trong nghiên cứu giảng dạy văn học của Trần Nho Thìn, Mã văn hoá trong tác phẩm của James Joyce của Nguyễn Linh Chi,… Đa văn hóa là thuộc tính bản chất, quy luật trong sự phát triển của loài người.

Có thể nói, từ thuở bình minh của nhân loại đã luôn tồn tại nhiều chủng tộc, nhiều nền văn hoá, và sự tiếp xúc, giao lưu giữa các nền văn hóa là điều không tránh khỏi, nhất là khi xuất hiện những cuộc di cư. Giao thoa văn hoá và đa dạng văn hoá là quy luật tất yếu của sự vận động xã hội, và trở thành điều kiện cần thiết cho phát triển, thậm chí cho sự sinh tồn của con người, bởi vì “con người không phải là một hòn đảo, không chỉ là tự mình; mỗi người là một phần của lục địa, một phần của tổng thể” [13,108]. Để trả lời cho câu hỏi liệu có đa văn hoá trong các nền văn minh cổ đại không, hai nhà khoa học Vladimiras và Liudmila đã truy nguyên dấu vết của đa văn hóa từ những chính sách sát nhập hai nền văn hoá Ba Tư và Macedon của Alexander Đại đế [14,33-49]. Alexander Đại đế vừa áp đặt văn hóa của người Macedonia (Hi Lạp) vào các vùng lãnh thổ bị chinh phục, nhưng cũng đồng thời chấp nhận phong tục của người dân địa phương.

Kết quả là Đa văn hóa xuất hiện như một hiện tượng xã hội trong lịch sử của Đế chế La Mã (Imperium Romanum), vào thời hoàng kim của Rome, luôn tồn tại nhiều dân tộc và bộ lạc khác nhau với các phong tục và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau chung sống. Người La Mã đã sử dụng viện trợ của người nước ngoài, trong đó có nô lệ, và vẫn tiếp tục chính sách hai nền văn hoá song song: Hi Lạp và La Mã. Đa văn hoá, từ các nhà dân tộc học đầu thế kỉ XX đến nay Về mặt lịch sử của thuật ngữ, Đa văn hóa đã manh nha xuất hiện từ giữa thế kỉ XVIII khi các nhà sử học Đức giới thuyết khái niệm về sự khác biệt và đa dạng tồn tại trong một nền văn hóa. Các nhà sử học có tiếng như Johann Gottfried von Herder (1744-1803) và Leopold von Ranke (1795-1886) đã đặt câu hỏi về tư duy Khai sáng của những tiến bộ từ thời kì đen tối đến thời văn minh, thông qua đa dạng văn hoá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ