đặt vấn đề nghiên cứu các sáng tiểu thuyết về chiến tranh một cách tổng thể và hệ thống. Hai luận án đã tổng hợp và khái quát được một số đặc điểm và khuynh hướng vận động của dòng tiểu thuyết chiến tranh sau 1975, đưa ra một số kiến giải có giá trị về các tác phẩm riêng lẻ. Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam thời hậu chiến ở Mỹ Với người Mỹ, chiến tranh Việt Nam không chỉ đơn thuần là một cuộc xung đột vũ trang, hơn thế rất nhiều, nó đã trở thành một “não trạng”, một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Viết về cuộc chiến, vì vậy, là một nhu cầu tự thân, một thôi thúc nội tại với tất cả những ai đã từng chia sẻ cái trải nghiệm chung thấm thía đó.
Hơn bất cứ cuộc chiến tranh thời hiện đại nào khác mà nước Mỹ từng can dự, Việt Nam là sự kiện sản sinh ra khối lượng sáng tác văn học đồ sộ nhất, đa dạng và phức tạp nhất với số lượng tác phẩm ngày càng gia tăngtheo thời gian. Dường như ngay cả khi cuộc chiến đã kết thúc một thời gian khá dài, người Mỹ vẫn không ngừng suy tư, trăn trở về đề tài này. Trong tổng thể các sáng tác văn học đó, tiểu thuyết chiếm số 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lượng áp đảo và đạt nhiều thành tựu đáng kể hơn cả. Sáng tác tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam đã trở thành một trào lưu rộng khắp, một dòng chảy liên tục trong đời sống văn học Mỹ.
Đứng trước một hiện tượng nổi bật như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã cho ra đời những công trình với tham vọng tổng kết, khát quát những đặc trưng cơ bản, phân tích những tác phẩm tiêu biểu và định giá chất lượng nghệ thuật của dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam. Philip Beidler trong chuyên luận Văn học Mỹ và trải nghiệm Việt Nam [83] đã xác định đối tượng nghiên cứu của mình là “sự cắt nghĩa mang tính văn chương” của người Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam. Đó có thể coi như một nỗ lực của các nhà văn và cả độc giả nhằm tìm kiếm một ý nghĩa mang tính cá nhân hay tập thể cho tất cả đống bộn bề đầy mập mờ, rối rắm, hỗn độn mà chiến tranh gây ra. Một cách gián tiếp, đó cũng có thể được coi như một sự thanh tẩy cảm xúc của những người lính-nhà văn từng tham chiến và cả dân tộc của họ thông qua việc tái hiện lại trải nghiệm chiến tranh.
Bên cạnh đó, Beidler chỉ ra ảnh hưởng của những huyền thoại phổ biến và truyền thống văn học Mỹ tới các sáng tác về Việt Nam. Khi viết về đề tài này, các tác giả, dù ý thức hay vô thức, đã hòa trộn những cái nhìn mới với những huyền thoại truyền thống được tạo lập từ trước. Nhiều yếu tố trong văn học về trải nghiệm Việt Nam đã được định hình từ trước ở những sáng tác của các nhà văn Mỹ tiền bối như James Fenimore Cooper, Mark Twain, và Herman Melville; chẳng hạn như những câu chuyện lịch sử về quá trình khai khẩn và định cư được viết bởi những người thực dân đầu tiên hay những huyền thoại muộn hơn xung quanh đời sống ở miền Tây nước Mỹ. Beidler tiếp tục khảo sát tiến trình của văn học chiến tranh Việt Nam, từ giai đoạn sơ khởi những năm 1958-1970, thời kỳ trung gian 1970-1975, và giai đoạn hậu chiến sau 1975 với sự xuất hiện của những sáng tác văn học mới.
Trong công trình tiếp theo của mình, Viết lại nước Mỹ: Thế hệ những tác giả văn học chiến tranh Việt Nam [84], Beidler lại tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện tiểu sử, sự nghiệp văn chương và tác phẩm của các cây bút nổi bật nhất trong dòng văn học chiến tranh Việt Nam tại Mỹ. Họ đa số là những cựu binh từng tham gia cuộc chiến và sáng tác sau khi chiến tranh kết thúc. Cuốn 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sách được chia thành bốn phần lớn tương ứng với các thể loại chính: ở tiểu thuyết, Beidler tập trung vào những tác giả như Tim O’Brien, Philip Caputo, Robert Olen Butler, James Webb, Winston Groom, Larry Heinemann; ở kịch, là David Rabe; ở thơ, là John Balaban, W. Ebrbart, David Huddle, Yusef Komunyakaa, Walter McDonald, Bruce Weigl; và ở tự truyện, là Gloria Emerson, Frances Fitzgerald, Robert Stone, Michael Herr.
Những nghiên cứu của Philip Beidler mang tính tổng hợp và khái quát cao; đó vừa như những giới thiệu cơ bản, lại vừa là những cuốn lược sử về văn học chiến tranh Việt Nam của người Mỹ. Trong công trình Bước đầu nghiên cứu: Những tự sự Mỹ về Việt Nam[132], Thomas Myers đưa ra những ngữ cảnh để có thể hiểu được nội dung và hình thức của các tự sự Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Myers khảo sát những huyền thoại và tín điều cũng như truyền thống văn học Mỹ (cụ thể là dòng tiểu thuyết lịch sử và chiến tranh) tác động tới các tác phẩm này. Ông cho rằng những sáng tác về Việt Nam hay nhất là những tác phẩm vượt qua được thứ chủ nghĩa hiện thực trận mạc đơn thuần để kết nối hay tương tác với những yếu tố lịch sử, văn hóa, văn học, những huyền thoại phổ biến hay những cuộc chiến trước đó của nước Mỹ.
Chính vì vậy, trong các tự sự này, chiến tranh Việt Nam mặc dù có vẻ như một trải nghiệm hoàn toàn khác biệt, thực chất lại thể hiện một sự tiếp nối và phát triển một số truyền thống lâu bền của người Mỹ; do đó, trải nghiệm mang tính dân tộc này cần đến cả văn bản lẫn những ngữ cảnh bên ngoài để có thể thấu hiểu trọn vẹn. Tiếp theo, Myers khảo sát những chủ đề và phương thức biểu hiện cốt yếu trong những tự sự hay nhất về chiến tranh Việt Nam của các tác giả Mỹ. Ông chỉ ra rằng các tác phẩm theo xu hướng hiện thực chủ nghĩa thuần túy, thường xuất hiện ở thời điểm đầu giai đoạn hậu chiến, mặc dù gây ấn tượng mạnh với độc giả qua những trải nghiệm và cảm xúc mãnh liệt của chiến trận, song, dường như lại quá bị ám ảnh bởi tiểu tiết mà quên mất việc tái dựng lại bối cảnh rộng hơn hay đưa đến những ý nghĩa chiêm nghiệm sâu sắc. Những tác phẩm này, vì vậy, thường trở thành một thứ hiện thực ảnh chụp hay một dạng cứ liệu giản đơn.
Những sáng tác thành công hơn, như Một ngày rất nóng(One Very Hot Day) của David Halberstam hay Thung lũng thứ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13(The 13th Valley)của John Del Vecchio, sẽ kết hợp nhuần nhuyễn hiện thực với hư cấu; chúng không chỉ dừng lại ở những chi tiết của cá nhân mà còn liên hệ tới cả những trải nghiệm tập thể; chúng chọn lọc, sắp xếp các yếu tố một cách tinh tế và đưa ra những đánh giá sâu sắc hơn. Trong những cuốn tự truyện nổi tiếng về cuộc chiến tại Việt Nam, như Nếu tôi chết trên chiến trường(If I Die in a Combat Zone) của Tim O’Brien hay Lời đồn chiến tranh(A Rumor of War) của Philip Caputo, Myers nhận thấy các tác giả cố gắng đưa ra những lời bộc bạch chân thành và bài học lịch sử qua việc đối chọi hiện thực trực tiếp mà bản thân trải nghiệm với những mô thức quen thuộc về chủ nghĩa anh hùng, lý tưởng đạo đức và hành động của người Mỹ. Cả O’Brien và Caputo đều hoài nghi và phủ định những giá trị chiến tranh như lòng dũng cảm, sự hy sinh, tính chính đáng… được khắc họa tràn ngập trong lịch sử và những huyền thoại phổ biến của phương Tây. Tác phẩm của họ là những lời đối thoại, thách thức lại cả một truyền thống lãng mạn hóa và lý tưởng hóa chiến tranh của người Mỹ, vạch trần mặt nạ của sự lừa mị và phơi bày sự thật trần trụi.
Theo Myers, những binh lính Mỹ tại Việt Nam phải đối diện với những nghịch lý quái gở. Họ cảm thấy đồng thời vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân của cuộc chiến tàn bạo này. Những người lính như bị mắc kẹt trong một cỗ máy chiến tranh độc đoán bất lường, những đợt hành quân và chiến dịch vô mục đích, cùng những lập luận nực cười theo kiểu: cần phải san phẳng những ngôi làng để bảo vệ chúng. Đối diện với những hiện thực nghịch dị đó, nhiều tác giả, chẳng hạn như Gustav Hasford trong Lính sắp xuất ngũ (The Short-Timers) hay Charles Durden trong Không kèn, không trống(No Bugles, No Drums), đã sử dụng hài hước đen (black humor) như một thủ pháp nghệ thuật chủ đạo nhằm lột tả tính chất phi lý của cuộc chiến.
Bên cạnh đó, Myers còn cho rằng chiến tranh Việt Nam, với tư cách là cuộc chiến “hậu hiện đại” đầu tiên của nước Mỹ, khiến cho những kiểu truyền đạt thông tin và tái hiện lịch sử theo truyền thống trở nên bất lực. Cái đại tự sự chính thống của giới lãnh đạo, vẫn cố gắng mô tả cuộc chiến theo một chủ nghĩa lãng mạn kiểu Mỹ, đối lập chát chúa với hiện thực trên chiến trường (chẳng hạn khi họ tuyên bố sự kiện Tết Mậu Thân là một chiến thắng mang tính quyết định của quân đội Mỹ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và Việt Nam Cộng hòa). Các phương tiện truyền thông như truyền hình, phát thanh cũng không thể đưa ra diễn giải khác biệt về cuộc chiến. Những sự thật về chiến tranh Việt Nam, những bài học rõ ràng nhất đều đã bị bỏ sót hay cố tình tảng lờ đi.
Bộ máy tuyên truyền, căn bệnh “lãng quên lịch sử” của người Mỹ, cùng sự ghẻ lạnh của cộng đồng trước sự trở về của các cựu binh càng làm tình trạng hiểu lầm tai hại về cuộc chiến trở nên trầm trọng. Đứng trước những khó khăn này, các tác giả, như Michael Herr với Những bản trình báo(Dispatches) hay Tim O’Brien với Đi tìm Cacciato(Going After Cacciato), đã sáng tạo ra những hình thức thẩm mỹ khác lạ để tái hiện dạng thức lịch sử mới này. Họ nhấn mạnh vai trò của trí tưởng tượng trong việc lột tả sự thật, biến đổi và sáng tạo lại hiện thực nhằm tạo lập những ký ức chiến tranh, đi sâu vào những ngóc ngách tâm thức cá nhân để diễn đạt trải nghiệm cộng đồng. Cuối cùng, nếu trong hai cuộc Thế chiến trước đó, binh lính Mỹ trở về với vị thế của kẻ chiến thắng giữa những cuộc chào mừng long trọng, thì những người lính bước ra từ cuộc chiến Việt Nam lại bị coi như những kẻ thất bại.
Nước Mỹ, với những huyền thoại về chiến thắng và sự thành công đã làm nên bản sắc cộng đồng, không thể đón nhận những đứa con thảm hại đó. Thậm chí, họ còn bị coi như những kẻ tội đồ, như chỗ để trút giận cho lương tâm và thể diện quốc gia.