Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo ngành báo chí truyền thông ở Việt Nam" được tác giả Trần Thị Tú Anh thực hiện tại Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2015, thuộc chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục (mã số: 62140120), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Văn Quyết.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ: hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam từ năm 2006 chủ yếu tập trung ở cấp cơ sở giáo dục. Ở cấp chương trình đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ban hành tiêu chuẩn cho khối ngành sư phạm và điều dưỡng, chưa có bộ tiêu chuẩn chung cho các khối ngành khác. Đối với ngành báo chí truyền thông—lĩnh vực giữ vai trò định hướng dư luận xã hội và là công cụ trên mặt trận tư tưởng văn hóa—các cơ sở đào tạo chủ yếu sử dụng bộ tiêu chuẩn chung như AUN-QA. Tuy nhiên, bộ tiêu chuẩn chung không phản ánh được tính chất đặc thù của ngành, vốn đào tạo kỹ năng tác nghiệp chuyên biệt ("người làm thợ" như thợ viết, thợ làm báo, thợ bình luận) thay vì đào tạo nghiên cứu hàn lâm đơn thuần. Các cơ sở đào tạo báo chí truyền thông trong nước chưa có một hệ thống chuẩn mực đo lường được chuẩn hóa để tự đánh giá và cải tiến chất lượng.
Mục đích nghiên cứu của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học, khảo sát cơ sở thực tiễn trong nước và quốc tế, từ đó xây dựng và thử nghiệm bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn các mô hình liên quan đến đánh giá chất lượng chương trình đào tạo bậc đại học nói chung và chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông nói riêng.
- Phân tích cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông ở nước ta qua các văn bản nghị quyết, quy định của Đảng và Nhà nước Việt Nam, qua yêu cầu của người sử dụng lao động về cử nhân báo chí truyền thông.
- Xác định các thành tố đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông.
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông ở Việt Nam.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 4 câu hỏi:
- (i) Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông ở Việt Nam được xây dựng trên căn cứ khoa học nào?
- (ii) Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam có những yêu cầu gì đối với đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông?
- (iii) Người sử dụng lao động có những yêu cầu gì đối với sinh viên tốt nghiệp báo chí truyền thông?
- (iv) Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông cần phải bao gồm những nội dung gì?
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông ở Việt Nam.
- Khách thể nghiên cứu: Người sử dụng lao động tại các cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình, đơn vị truyền thông; phóng viên, biên tập viên; chuyên gia đo lường và đánh giá giáo dục; cán bộ quản lý và giảng viên các cơ sở đào tạo báo chí truyền thông.
- Phạm vi không gian: Khảo sát đơn vị sử dụng lao động tại hai trung tâm báo chí lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; khảo sát giảng viên và thử nghiệm tự đánh giá tại 05 cơ sở giáo dục đại học đào tạo ngành báo chí truyền thông trên cả nước gồm: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), Trường Đại học Khoa học (Đại học Huế) và Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thu thập dữ liệu thực tế vào cuối năm 2013; theo dõi số liệu về mức độ hài lòng của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp giai đoạn từ năm 2009 đến thời điểm nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại lịch sử phát triển của hoạt động đánh giá, kiểm định chương trình đào tạo trên thế giới và tại Việt Nam qua các nhóm công trình:
Về các nghiên cứu quốc tế tổng quát: Tác giả dẫn chứng nguồn gốc kiểm định bắt đầu từ Hoa Kỳ trong lĩnh vực Y khoa của Hiệp hội Y khoa Mỹ (AMA) giai đoạn 1876–1907 và mốc công nhận chính thức các tổ chức kiểm định chương trình vào năm 1951. Các công trình tại châu Âu và khối Thịnh Vượng Chung được phân tích gồm: Cave và cộng sự (1988), Johnes & Taylor (1990), Linke (1991), Kells (1993). Giai đoạn 1995–1998, các tác giả Craft (1994), Dill (1995), Linkes (1995), Davis (1996), Andrews (1998) đã tổng hợp khoảng 300 chỉ số quyết định chất lượng chương trình đào tạo đại học. Tác giả cũng phân tích mô hình phân loại tiêu chuẩn của 15 nước phát triển (dựa trên đầu vào, quá trình, đầu ra, tài chính và các chỉ số chung), cùng hệ thống của Liên bang Úc và Thái Lan.
Về các mô hình đánh giá và bộ tiêu chuẩn kiểm định chuyên ngành:
- AACSB (1919): Bộ tiêu chuẩn kiểm định khối ngành Quản trị kinh doanh và Kế toán của Hoa Kỳ, dựa trên 3 mảng: quản lý chiến lược, hoạt động và nguồn nhân lực, đảm bảo chất lượng học tập.
- ABET: Hệ thống kiểm định kỹ thuật và công nghệ của Hoa Kỳ gồm 8 tiêu chuẩn cốt lõi (Sinh viên; Mục tiêu đào tạo; Chuẩn đầu ra; Cải tiến liên tục; Chương trình; Đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất; Sự hỗ trợ của cơ sở đào tạo) và các tiêu chí chuyên ngành.
- Mô hình CDIO (Viện Công nghệ MIT, Hoa Kỳ): Giải pháp đào tạo theo nhu cầu xã hội dựa trên chuẩn đầu ra với 12 tiêu chuẩn.
- Bộ tiêu chuẩn AUN-QA: Hệ thống của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á gồm 15 tiêu chuẩn và 68 tiêu chí tiếp cận theo mô hình chất lượng đầu vào, quá trình và đầu ra.
Về các nghiên cứu tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo báo chí truyền thông:
- Nghiên cứu của Guy Berger & Corinne Matras (2007) trong khuôn khổ chương trình của UNESCO tại châu Phi, xác định 3 nhóm tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn A (Chương trình đào tạo, trang thiết bị và hệ thống đánh giá); Tiêu chuẩn B (Tính chuyên nghiệp, dịch vụ công cộng, liên kết bên ngoài); Tiêu chuẩn C (Chiến lược phát triển, tiềm năng ngân sách và quản trị).
- Bộ tiêu chuẩn của Hội đồng kiểm định giáo dục Báo chí và Truyền thông đại chúng Hoa Kỳ (ACEJMC): Gồm 9 tiêu chuẩn quản trị, chương trình, đa dạng, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu sáng tạo, dịch vụ sinh viên, nguồn lực, dịch vụ chuyên nghiệp và đánh giá kết quả; đồng thời quy định 12 chuẩn năng lực người tốt nghiệp.
- Tại Việt Nam: Nghiên cứu của Hoàng Đình Cúc (2010) về tiêu chí chất lượng đào tạo cử nhân báo chí truyền thông được tác giả đánh giá là còn mang tính chủ quan, thiếu số liệu khảo sát người sử dụng lao động và chưa được lượng hóa hay thử nghiệm thực tế.
Về các nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo tại Việt Nam: Tác giả tổng thuật các nghiên cứu của Phạm Văn Lập (1998), Lê Đức Ngọc (2004), Nguyễn Kim Dung (2005), Phạm Xuân Thanh (2005), Trần Khánh Đức (2006), Ngô Doãn Đãi, Nguyễn Chí Hòa và Nguyễn Hữu Cương (2008), Trần Thị Hoài và Lê Đức Ngọc (2009), Trần Thị Bích Liễu (2009), Nguyễn Phương Nga (2010), Bùi Thị Thu Hương (2012), Sái Công Hồng (2013), Phan Xuân Sơn, Phạm Thị Tuý, Đoàn Minh Huấn, Nguyễn Công Trí (2013), Nguyễn Tuyết Hạnh (2013), Đinh Tuấn Dũng (2014). Bên cạnh đó là 4 bộ tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cho ngành Giáo dục Tiểu học (Quyết định 72/2007/QĐ-BGDĐT), Sư phạm Trung học phổ thông (Thông tư 49/2012/TT-BGDĐT thay thế Quyết định 03/2008/QĐ-BGDĐT), Sư phạm Kỹ thuật công nghiệp (Thông tư 23/2011/TT-BGDĐT) và ngành Điều dưỡng (năm 2013).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trong nước dừng lại ở góc độ lý thuyết chung, hoặc xây dựng tiêu chí định tính mà thiếu kiểm định định lượng về độ tin cậy và độ giá trị. Các nghiên cứu đã lượng hóa (như của Đinh Tuấn Dũng) lại dành cho khối ngành kinh tế. Luận án giải quyết khoảng trống về việc thiết lập một bộ tiêu chuẩn riêng biệt cho ngành báo chí truyền thông tại Việt Nam, kết hợp cơ sở định tính với mô hình đo lường định lượng Rasch và tiến hành thử nghiệm tự đánh giá thực tế tại các cơ sở đào tạo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án dựa trên lý luận đo lường và đánh giá giáo dục, mô hình quản lý chất lượng tổng thể, tiếp cận hệ thống CIPP (Context - Input - Process - Product), và khung đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của AUN-QA, ACEJMC. Luận án làm rõ các khái niệm công cụ: "Chất lượng", "Tiêu chuẩn đánh giá", "Tiêu chí đánh giá", "Chương trình đào tạo", "Đánh giá chất lượng chương trình đào tạo" và "Chuẩn đầu ra".
Khung phân tích của luận án kết hợp giữa yêu cầu thể chế chính trị (chủ trương, văn bản của Đảng và Nhà nước đối với báo chí cách mạng) và yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động (năng lực tác nghiệp, kỹ năng mềm, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hướng tiếp cận hỗn hợp:
- Phương pháp định tính:
- Khảo cứu, phân tích văn bản pháp quy, nghị quyết, chương trình khung đào tạo và các bộ tiêu chuẩn kiểm định trong và ngoài nước.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các chuyên gia đo lường đánh giá giáo dục, nhà quản lý và giảng viên báo chí.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với đại diện lãnh đạo các cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cùng các chuyên gia tham gia thiết kế chương trình đào tạo.
- Phương pháp định lượng:
- Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 200 phóng viên, biên tập viên công tác tại các cơ quan báo, đài nhằm khảo sát thực trạng năng lực và mức độ đáp ứng yêu cầu công việc.
- Khảo sát ý kiến của 290 giảng viên và cán bộ quản lý tại 05 cơ sở giáo dục đại học đào tạo ngành báo chí truyền thông về mức độ cần thiết của các tiêu chuẩn, tiêu chí.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm Quest áp dụng mô hình trắc lượng Rasch (Rasch measurement model) để kiểm tra độ tin cậy của thang đo (reliability), chỉ số độ phù hợp (infit MNSQ, outfit MNSQ) nhằm xác định các tiêu chí nằm trong khoảng tương thích cho phép và chuẩn hóa bộ tiêu chuẩn.
- Nguồn tư liệu và dữ liệu: Các văn kiện chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về báo chí; cơ sở dữ liệu sơ cấp từ 200 phiếu khảo sát phóng viên/biên tập viên; 290 phiếu khảo sát giảng viên; biên bản phỏng vấn sâu lãnh đạo báo đài; báo cáo tự đánh giá và hồ sơ minh chứng thử nghiệm tại 05 trường đại học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học
Nội dung chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng của khoa học đánh giá và đối sánh các hệ thống tiêu chuẩn kiểm định giáo dục đại học trên thế giới và tại Việt Nam.
Tác giả phân tích nội hàm các mô hình đảm bảo chất lượng quốc tế gồm AACSB, ABET, CDIO, AUN-QA và các chuẩn chuyên ngành báo chí truyền thông như bộ tiêu chí của UNESCO tại châu Phi (Guy Berger & Corinne Matras) và bộ 9 tiêu chuẩn cùng 12 chuẩn năng lực của ACEJMC (Hoa Kỳ). Luận án cũng phân tích 3 bộ tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo giáo viên do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Từ việc đối sánh văn bản, tác giả xây dựng hai bảng tổng hợp nội hàm tiêu chuẩn:
| Tiêu chuẩn cốt lõi |
QĐ 49/2012/TT-BGDĐT (Sư phạm THPT) |
QĐ 72/2007/QĐ-BGDĐT (Sư phạm Tiểu học) |
QĐ 23/2011/TT-BGDĐT (Sư phạm Kỹ thuật) |
| Tiêu chuẩn 1 |
Mục tiêu, chuẩn đầu ra, cơ cấu tổ chức, quản lý |
Mục tiêu, cơ cấu tổ chức, quản lý đào tạo |
Mục tiêu và chuẩn đầu ra |
| Tiêu chuẩn 2 |
Chương trình và hoạt động đào tạo |
Chương trình và hoạt động đào tạo |
Chương trình đào tạo |
| Tiêu chuẩn 3 |
Đội ngũ giảng viên và nhân viên |
Đội ngũ giảng viên |
Hoạt động đào tạo |
| Tiêu chuẩn 4 |
Người học và công tác hỗ trợ người học |
Người học và công tác hỗ trợ người học |
Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và nhân viên |
| Tiêu chuẩn 5 |
Cơ sở vật chất phục vụ chương trình |
Thư viện, trang thiết bị dạy học và cơ sở vật chất |
Người học |
| Tiêu chuẩn 6 |
Công tác tài chính phục vụ chương trình |
Công tác tài chính |
Cơ sở vật chất phục vụ chương trình |
| Tiêu chuẩn 7 |
Đánh giá sinh viên tốt nghiệp và tư vấn việc làm |
Đánh giá sinh viên tốt nghiệp và tư vấn việc làm |
Công tác tài chính phục vụ chương trình |
Bảng tổng hợp đối sánh nội hàm các tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo giáo viên của Việt Nam (trích lược theo Bảng 1.1 của luận án)
Tiếp đó, tác giả đối sánh hệ thống tiêu chuẩn của Đại học Quốc gia Hà Nội, AUN, ABET và AACSB để rút ra 7 nhóm thành tố cốt lõi bắt buộc của một chương trình đào tạo đại học: (1) Mục tiêu/Chuẩn đầu ra; (2) Chương trình đào tạo; (3) Đội ngũ giảng viên và nhân viên; (4) Hoạt động đào tạo/Chiến lược dạy và học; (5) Người học và hoạt động hỗ trợ; (6) Cơ sở vật chất và trang thiết bị; (7) Đánh giá và phản hồi của các bên liên quan. Đây là cơ sở khoa học để thiết kế mô hình thành tố cho ngành báo chí truyền thông.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và kết quả khảo sát
Chương 2 trình bày bối cảnh đào tạo báo chí truyền thông tại Việt Nam, các nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn, công cụ nghiên cứu, quy trình triển khai và phân tích các số liệu thực nghiệm.
Quy trình khảo sát và chuẩn hóa tiêu chuẩn được tiến hành qua 6 bước:
- Bước 1: Khảo sát 200 người sử dụng lao động và người làm báo tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
- Bước 2: Phỏng vấn sâu lãnh đạo các cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình.
- Bước 3: Phân tích định tính và định lượng kết quả khảo sát, phỏng vấn.
- Bước 4: Khảo sát xin ý kiến chuyên gia đo lường và chuyên gia báo chí.
- Bước 5: Khảo sát 290 giảng viên và cán bộ quản lý tại 05 trường đại học về mức độ cần thiết của các tiêu chuẩn, tiêu chí.
- Bước 6: Thử nghiệm tiêu chuẩn đánh giá chất lượng tại các cơ sở đào tạo.
Kết quả khảo sát người sử dụng lao động và cựu sinh viên chỉ ra thực trạng đào tạo:
- Về vị trí việc làm và thời gian công tác: Số liệu thể hiện sự phân bổ cử nhân báo chí tại các loại hình báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình và các bộ phận truyền thông doanh nghiệp.
- Mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng lao động: Đánh giá cao phẩm chất chính trị, lòng yêu nghề và đạo đức nghề nghiệp; tuy nhiên còn phản ánh hạn chế về kỹ năng tác nghiệp thực tế, khả năng sử dụng công nghệ truyền thông hiện đại, trình độ ngoại ngữ và các kỹ năng mềm (kỹ năng giao tiếp, phỏng vấn, xử lý tình huống và làm việc nhóm).
- Nhu cầu đào tạo bổ sung: Nhiều cơ quan báo chí phải tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ thực tế cho phóng viên mới tuyển dụng do kiến thức nhà trường trang bị chưa sát với thực tiễn tác nghiệp của tòa soạn hiện đại.
Kết quả xử lý số liệu khảo sát 290 giảng viên bằng mô hình Rasch qua phần mềm Quest:
- Tác giả đo lường mức độ cần thiết của từng tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá.
- Các chỉ số thống kê độ phù hợp (Infit MNSQ và Outfit MNSQ) được phân tích để xác định tính tương thích của các biến quan sát. Hầu hết các tiêu chí đều nằm trong khoảng đồng bộ cho phép (từ 0.77 đến 1.30 theo chuẩn mô hình Rasch), khẳng định tính giá trị nội dung và độ tin cậy của bộ công cụ.
Chương 3: Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành Báo chí truyền thông ở Việt Nam và kết quả thử nghiệm
Chương 3 công bố hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo ngành báo chí truyền thông đã hoàn thiện, ban hành hướng dẫn thực hiện và trình bày kết quả thử nghiệm tự đánh giá.
Nội dung hệ thống tiêu chuẩn đánh giá bao gồm các tiêu chuẩn bao quát toàn bộ quá trình đào tạo:
- Mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình (thể hiện rõ yêu cầu chính trị, định hướng tư tưởng và năng lực tác nghiệp báo chí).
- Cấu trúc và nội dung chương trình đào tạo (đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa lý thuyết và thực hành nghề nghiệp, cập nhật xu hướng báo chí đa phương tiện).
- Hoạt động dạy và học (phương pháp dạy học tích cực, gắn kết với hoạt động tác nghiệp thực tế).
- Đánh giá kết quả học tập của sinh viên (đa dạng hóa hình thức đánh giá sản phẩm báo chí, portfolio).
- Đội ngũ giảng viên và nhân viên hỗ trợ (năng lực học thuật kết hợp kinh nghiệm tác nghiệp thực tế tại các cơ quan báo đài).
- Người học và hoạt động hỗ trợ người học (tuyển sinh, cố vấn học tập, hoạt động thực tập thực tế tại tòa soạn).
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và học liệu (phòng thu âm, trường quay truyền hình, phòng máy dựng, hệ thống internet và trang thiết bị tác nghiệp).
- Tài chính và quản lý chương trình.
- Đảm bảo chất lượng và kết quả đầu ra (tỷ lệ việc làm đúng ngành, phản hồi của cơ quan báo chí sử dụng lao động).
Chương này cung cấp bộ tài liệu hướng dẫn tác nghiệp chi tiết:
- Quy trình tự đánh giá gồm các bước: thành lập hội đồng tự đánh giá, lập kế hoạch, thu thập và xử lý thông tin minh chứng, viết phiếu đánh giá tiêu chí và hoàn thiện báo cáo tự đánh giá.
- Hướng dẫn thu thập, mã hóa và lưu trữ minh chứng phục vụ kiểm định chương trình.
- Hướng dẫn cấu trúc và kỹ thuật viết báo cáo tự đánh giá.
Về kết quả thử nghiệm: Tác giả tiến hành thử nghiệm tự đánh giá tại 05 cơ sở đào tạo ngành báo chí truyền thông trên toàn quốc. Kết quả tổng hợp mức độ đạt được của các trường qua các tiêu chuẩn được tổng thuật cụ thể trong báo cáo thực nghiệm, khẳng định tính khả thi, mức độ phù hợp và khả năng áp dụng của bộ tiêu chuẩn trong điều kiện thực tế của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
- Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học, phân tích kinh nghiệm quốc tế và làm rõ các thành tố đảm bảo chất lượng đặc thù của ngành báo chí truyền thông.
- Xây dựng thành công mô hình các thành tố đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông tại Việt Nam, tích hợp hài hòa giữa quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các chuẩn mực kiểm định giáo dục quốc tế.
- Lần đầu tiên tại Việt Nam, luận án ứng dụng mô hình đo lường Rasch (thông qua phần mềm Quest) để chuẩn hóa, định lượng và kiểm tra độ tin cậy, độ giá trị của hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình đào tạo ngành báo chí truyền thông.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng đào tạo cử nhân báo chí truyền thông tại Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà tuyển dụng, làm rõ khoảng cách giữa năng lực thực tế của người tốt nghiệp và đòi hỏi của cơ quan báo chí.
- Định lượng hóa các yêu cầu năng lực cốt lõi mà người sử dụng lao động cần ở cử nhân báo chí truyền thông (kiến thức nghiệp vụ, đạo đức người làm báo, kỹ năng công nghệ đa phương tiện, ngoại ngữ, kỹ năng mềm).
- Xây dựng hoàn chỉnh bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông kèm theo bản hướng dẫn quy trình tự đánh giá, kỹ thuật thu thập minh chứng và viết báo cáo tự đánh giá.
- Kiểm chứng tính khả thi và độ tin cậy của bộ tiêu chuẩn thông qua quá trình thử nghiệm tự đánh giá tại 05 cơ sở giáo dục đại học đào tạo báo chí truyền thông trên phạm vi cả nước.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần sớm xem xét, ban hành bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo ngành báo chí truyền thông trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận án, tạo hành lang pháp lý cho công tác kiểm định chuyên ngành.
- Đối với các cơ sở đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông: Sử dụng bộ tiêu chuẩn làm công cụ tự đánh giá định kỳ, rà soát lại chuẩn đầu ra, điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tăng cường thời lượng thực hành tác nghiệp, đầu tư trang thiết bị phòng studio, phòng dựng và tăng cường mời các nhà báo có kinh nghiệm tham gia giảng dạy.
- Đối với các cơ quan báo chí, đài phát thanh - truyền hình: Chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo trong việc tiếp nhận sinh viên thực tập, đặt hàng đào tạo và tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chương trình đào tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Phạm vi khảo sát người sử dụng lao động mới tập trung chủ yếu tại hai trung tâm đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, chưa bao quát được đầy đủ các cơ quan báo chí địa phương, đài phát thanh - truyền hình tuyến tỉnh hoặc vùng sâu, vùng xa.
- Khảo sát thực nghiệm giảng viên và thử nghiệm tự đánh giá được giới hạn trong phạm vi 05 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm có đào tạo ngành báo chí truyền thông.
- Nghiên cứu chỉ tập trung vào trình độ đào tạo đại học (cử nhân), chưa nghiên cứu đánh giá cho các bậc đào tạo sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) ngành báo chí truyền thông.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điều tra người sử dụng lao động tới các đài phát thanh - truyền hình địa phương và các tòa soạn báo tỉnh để tăng tính bao quát vùng miền.
- Tiếp tục theo dõi, hoàn thiện bộ tiêu chuẩn để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ truyền thông số và hội tụ truyền thông.
- Nghiên cứu phát triển các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo báo chí truyền thông ở bậc sau đại học.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ các nhóm đối tượng:
- Các nhà quản lý giáo dục và ban chủ nhiệm khoa/ngành báo chí truyền thông: Cung cấp khung chuẩn mực để rà soát, cải tiến nội dung giảng dạy, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá sinh viên và nâng cao chất lượng vận hành chương trình.
- Cán bộ làm công tác đảm bảo chất lượng và kiểm định viên giáo dục: Cung cấp quy trình tự đánh giá bài bản, hướng dẫn cụ thể về thu thập minh chứng, mã hóa hồ sơ và kỹ thuật lập báo cáo tự đánh giá cấp chương trình.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục: Cung cấp phương pháp luận kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng, đặc biệt là quy trình ứng dụng mô hình trắc lượng Rasch và phần mềm Quest để chuẩn hóa thang đo và kiểm định các tiêu chí đo lường giáo dục.
- Các cơ quan thông tấn, báo chí: Cung cấp cơ sở dữ liệu về chuẩn năng lực nghề nghiệp để tham khảo trong tuyển dụng, đánh giá nhân sự và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ cho phóng viên, biên tập viên.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án giải quyết vấn đề gì trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam?
Luận án giải quyết khoảng trống thiếu vắng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chuyên biệt cho chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông, thay thế việc phải áp dụng các bộ tiêu chuẩn chung không phản ánh đúng tính chất đào tạo kỹ năng nghề nghiệp đặc thù của lĩnh vực này.
-
Mô hình toán học nào được sử dụng để kiểm định độ tin cậy của bộ tiêu chuẩn?
Luận án sử dụng mô hình đo lường Rasch (Rasch measurement model) thông qua phần mềm Quest để phân tích mức độ cần thiết, kiểm tra độ tin cậy và các chỉ số phù hợp (Infit MNSQ, Outfit MNSQ) của từng tiêu chí nhằm chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá.
-
Mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án gồm những đối tượng nào và có quy mô ra sao?
Mẫu khảo sát gồm hai nhóm chính: nhóm người sử dụng lao động gồm 200 phóng viên, biên tập viên công tác tại các cơ quan báo, đài ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; nhóm giảng viên gồm 290 cán bộ quản lý và giảng viên giảng dạy tại 05 trường đại học đào tạo ngành báo chí truyền thông trên toàn quốc.
-
Những kinh nghiệm quốc tế nào về kiểm định ngành báo chí truyền thông được luận án phân tích sâu?
Luận án phân tích sâu hai hệ thống quốc tế chuyên ngành: bộ tiêu chí và chỉ số đào tạo báo chí truyền thông chất lượng cao của UNESCO tại châu Phi do Guy Berger & Corinne Matras xây dựng (2007) và bộ 9 tiêu chuẩn kiểm định kèm 12 chuẩn năng lực người học của Hội đồng Kiểm định Giáo dục Báo chí và Truyền thông đại chúng Hoa Kỳ (ACEJMC).
-
Bộ tiêu chuẩn của luận án đã được thử nghiệm thực tế tại những cơ sở giáo dục nào?
Bộ tiêu chuẩn đã được thử nghiệm tự đánh giá tại 05 cơ sở: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), Trường Đại học Khoa học (Đại học Huế) và Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Tú Anh đã hoàn thành mục tiêu xây dựng và chuẩn hóa bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo đại học ngành báo chí truyền thông tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp cơ sở lý luận kiểm định hiện đại với phân tích thực chứng nhu cầu xã hội và ứng dụng mô hình trắc lượng Rasch, công trình đã thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn có cơ sở khoa học và tính khả thi thực tế. Kết quả thử nghiệm tại 05 cơ sở giáo dục đại học đào tạo báo chí truyền thông khẳng định bộ tiêu chuẩn là công cụ đo lường phù hợp, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác đảm bảo chất lượng và định hướng đổi mới đào tạo báo chí truyền thông tại Việt Nam.