Chương 1. Tổng quan và cơ sở lý thuyết Chương 2. Thiết kế và tổ chức nghiên cứu Chương 3. Thực trạng và mức độ đáp ứng của hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA.QA 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.QA Chƣơng 1.
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về đảm bảo chất lượng Đảm bảo chất lượng bên trong trường ĐH đã và đang được phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các cơ sở GDĐH trên thế giới. Ngay từ thế kỷ thứ XIII, đại học Paris đã tổ chức triển khai công tác ĐBCL bên trong nhà trường.
Tại Mỹ, kiểm định được đưa vào giáo dục y khoa từ cuối thế kỷ thứ XIX và các tổ chức KĐCL cũng ra đời ở Mỹ nhưng chưa đi sâu vào ĐBCL giáo dục. Kể từ năm 1950 đến năm 1989, Mỹ đưa ra một hệ thống tổng thể về KĐCL, trong khi châu Âu đưa đánh giá chất lượng bên ngoài cấp quốc gia vào giữa thập niên 1980. Từ năm 1990 đến nay, ĐBCL trở nên phát triển mạnh mẽ và trở thành vấn đề quan trọng trong GDĐH (Lewis và những người khác, 2009), (AUN, 2009). Đến năm 2000, ĐBCL bắt đầu khẳng định tầm quan trọng của mình ở mỗi quốc gia trong thị trường cạnh tranh về giáo dục khi xuất hiện ngày càng nhiều các cơ sở GDĐH tư nhân.
Đảm bảo chất lượng bên trong Trong ba thập kỷ vừa qua, có nhiều lý thuyết về ĐBCL trong GDĐH xuất hiện ở châu Âu và một vài lý thuyết trong số đó đã trở nên nổi tiếng trên thế giới. Chẳng hạn, lý thuyết của Barnett (1987), Church (1988) cho rằng ĐBCL bao gồm đầu vào, quá trình và đầu ra. Lawrence và Dangerfield (2001) cho rằng “giới học thuật có một lịch sử lâu đời về đo lường chất lượng dựa vào đầu vào nhiều hơn là đầu ra”. Trước đây, mô hình kiểm soát chất lượng thường được sử dụng để kiểm tra chất lượng và mô hình này có nguồn gốc từ sản xuất hàng hóa.
Lý thuyết chủ đạo của hệ thống ĐBCL xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó được đưa vào giáo dục. Hiện nay, các lý thuyết có liên quan đến ĐBCL như Tiêu chuẩn hóa quốc tế dành cho các cơ quan, tổ chức (ISO) xuất phát từ kinh doanh và công nghiệp đã được đưa vào giáo dục, đặc biệt là GDĐH. ISO 9001 là bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượng được hình thành từ năm 1955 và được soát xét nhiều lần. Đến nay, Bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2008 đã được chính thức ban hành, bao gồm 4 tiêu chuẩn cốt lõi với mục đích là đảm bảo cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ không những đáp ứng được những nhu cầu đã đề ra mà còn cao hơn nữa là thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng trong tương lai.QA 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
UNESCO (2003) xác định ĐBCL trong GDĐH là các thủ tục đánh giá và quản lý có hệ thống để giám sát hoạt động của các cơ sở GDĐH. INQAAHE (2004) cho rằng ĐBCL là các thái độ, đối tượng, hoạt động và thủ tục cùng các hoạt động kiểm soát chất lượng, đảm bảo chuẩn học thuật phù hợp đang được duy trì và nâng cao. Vlăsceanu và những người khác (2007) cho rằng ĐBCL là một vấn đề của nhận thức và cam kết mà người ta gọi là văn hóa chất lượng. Arsovski (2007) cho rằng ĐBCL bên trong GDĐH châu Âu gồm 7 nội dung nhấn mạnh cải tiến chất lượng.
Gvaramadze (2008) thì cho rằng ĐBCL bên trong gồm 7 nội dung nhấn mạnh trách nhiệm, văn hóa chất lượng và cam kết chất lượng. Theo quan điểm của Reisberg (2010), ĐBCL phải là một quá trình tự điều chỉnh, phản ánh và cải cách liên tục. Mỗi quá trình bắt đầu ở mỗi thời điểm khác nhau dựa trên trải nghiệm riêng của từng cơ sở giáo dục. UNESCO (2011) thừa nhận ĐBCL là một quá trình xây dựng niềm tin giữa các bên liên quan đến các điều khoản (đầu vào, quá trình và đầu ra) đáp ứng sự mong đợi hoặc đạt ngưỡng yêu cầu tối thiểu.
ĐBCL liên quan đến sự phát triển liên tục, quy trình đánh giá liên tục gồm đánh giá, giám sát, đảm bảo, duy trì và nâng cao chất lượng. Nó mang đặc trưng của TQM với hai mục đích quan trọng cần tập trung là trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục. Trong hệ thống ĐBCL, UNESCO (2011) nhấn mạnh ba yếu tố: kiểm soát chất lượng, trách nhiệm giải trình và cải tiến (dựa trên ba nguyên tắc chính trong ĐBCL của Harvey (1999)). Hệ thống ĐBCL bên trong các trường ĐH Việt Nam Phạm Xuân Thanh (2011) đưa ra hệ thống ĐBCL bên trong trường ĐH Việt Nam cơ bản dựa trên sự kết hợp hệ thống của châu Âu, châu Á – Thái Bình Dương, AUN và phù hợp với Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường ĐH Việt Nam (ban hành theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 và Thông tư số 37/2012/TT-BGDĐT ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) được mô tả như Hình 1.QA 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.QA Hệ thống ĐBCL bên trong trường đại học Việt Nam -Các chủ trương -Cơ chế phê -Chiến lược -Công khai của nhà trường, duyệt, liên tục cải các thông tin -Kế hoạch cải tiến chất lượng đào tạo, -Giám sát và tiến, nâng cao về giảng -Một đơn vị chuyên định kỳ rà soát chất lượng đào trách về ĐBCL, dạy, chương đánh giá các tạo, -Các hoạt động và trình và kết sự phối hợp giữa chương trình -ĐBCL đội các đơn vị bên đào tạo.
ngũ giảng dạy. quả đào tạo. trong nhà trường. Hệ thống ĐBCL bên trong trƣờng đại học Việt Nam Hệ thống ĐBCL bên trong của các trường ĐH Việt Nam cơ bản phù hợp với hệ thống ĐBCL của AUN-QA.
Dựa trên bộ tiêu chuẩn/tiêu chí đã ban hành, các trường ĐH có thể bổ sung một số hoạt động ĐBCL phù hợp với bối cảnh của trường nhằm tăng cường hoạt động ĐBCL bên trong. Tuy nhiên, thang đánh giá chất lượng của AUN-QA có 7 mức (từ không có gì đến xuất sắc) hướng đến ĐBCL quốc tế, trong khi Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường ĐH của Việt Nam lại có 2 mức (đạt và chưa đạt), chưa thể hiện rõ ràng mức độ chất lượng trường ĐH đạt được. Tác giả Trần Khánh Đức (2009) cho rằng nguyên tắc Chiba (2008) của APQN gồm 7 nội dung nhấn mạnh xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng. Dựa trên hệ thống ĐBCL của AUN-QA, Nguyễn Kim Dung và Lê Văn Hảo (2012) đưa ra các nhu cầu phát triển hệ thống ĐBCL bên trong của các trường ĐH Việt Nam, những việc làm được, chưa làm được và đề xuất các ý kiến liên quan đến sự phát triển của hệ thống ĐBCL bên trong trường ĐH.
Tác giả Nguyễn Hữu Châu trong Báo cáo tổng kết đề tài B2004-CTĐT (Hà Nội, 2006) “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục” đã phân tích một số thành tố chất lượng giáo dục, xác lập bộ tiêu chí và những chỉ số cơ bản đánh giá chất lượng giáo dục của hệ thống giáo dục và cơ sở giáo dục cũng như sự phù hợp, cần thiết và khả năng đo lường của hai bộ tiêu chí và chỉ số cơ bản đánh giá chất lượng giáo dục.QA 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.QA Trong báo cáo tổng kết đề tài B2004-CTĐT (Hà Nội, 2006), “Các mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục đại học trên thế giới”, tác giả Bùi Mạnh Nhị và các cộng sự đã đề cập đến các mô hình ĐBCL của các quốc gia phát triển trên thế giới, kết quả khảo sát về đánh giá thực trạng chất lượng GDĐH ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng GDĐH Việt Nam. Dựa trên quan điểm của SEAMEO (2002), Lê Đức Ngọc (2008) đưa ra quan điểm ĐBCL là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch, có hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng, và được chứng minh là đủ mức cần thiết để khách hàng thỏa mãn các yêu cầu chất lượng. Phạm Xuân Thanh (2009) cũng dựa vào quan điểm của SEAMEO (2002) để đưa ra định nghĩa ĐBCL. Ngô Doãn Đãi (2012) xác định những việc cần làm của các trường ĐH Việt Nam hiện nay là: i) Có chính sách rõ ràng và những quy trình phù hợp để ĐBCL các chương trình đào tạo và bằng cấp; ii) Chú ý sự tham gia của GV, NV và SV.
Nguyễn Văn Hiệu (2012) nhận định ĐBCL GDĐH ở Việt Nam cần kết hợp bộ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và bộ tiêu chuẩn của AUN-QA để thực hiện tốt việc quản lý đào tạo và phát triển theo hướng ĐBCL. Quan điểm về ĐBCL còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng cơ bản vẫn là các hoạt động ĐBCL bên trong , ĐBCL bên ngoài hoặc ĐBCL bên trong và bên ngoài cơ sở giáo dục. Hơn nữa, một số quan điểm cho rằng ĐBCL bao gồm cả văn hóa chất lượng, kiểm định chất lượng, số khác thì cho rằng nó độc lập với các phương thức, thủ tục khác nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ thống. Như vậy, thông qua nhận định của các tác giả, cho thấy nội hàm của ĐBCL hướng theo hai quan điểm chính: (i) ĐBCL nhấn mạnh duy trì và đảm bảo chất lượng; (ii) ĐBCL nhấn mạnh nâng cao và cải tiến chất lượng.
Do đó, các định nghĩa, khái niệm hoặc quan niệm về ĐBCL còn tùy vào lĩnh vực đặc trưng của từng loại hình cơ sở giáo dục, bối cảnh phát triển, quy trình hoạt động và chính sách giáo dục của mỗi quốc gia. Tựu chung lại, có thể nói rằng, ĐBCL bên trong là các hoạt động tự thân chăm lo chất lượng của nhà trường, là toàn bộ mọi hoạt động của các bộ phận trong nhà trường để hướng đến chất lượng như mong muốn. Đảm bảo chất lượng bên ngoài Mục đích của ĐBCL bên ngoài là đạt được trách nhiệm giải trình và chứng minh mục tiêu đạt được của cơ sở giáo dục trước xã hội (Parri, 2006). Theo Dill (LUAN.QA 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.QA (2007), mục tiêu của ĐBCL bên ngoài là thúc đẩy nâng cao chất lượng GDĐH.
EUA (2010) cho rằng mục tiêu của ĐBCL bên ngoài là một cách để cân bằng lợi ích học thuật và chính sách trong GDĐH. Vroeijenstijn (2003) nhấn mạnh ĐBCL bên ngoài tạo áp lực trách nhiệm giải trình và cải tiến ĐBCL bên trong. Karkoszka (2009) nhận định rằng hệ thống ĐBCL bên ngoài chỉ hoạt động hiệu quả khi nó có liên quan chặt chẽ với hệ thống ĐBCL bên trong, trong đó cần đảm bảo tính thống nhất, linh hoạt, sáng tạo và cải tiến.