Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục (mã số: 62140120) của tác giả Trần Anh Vũ, được bảo vệ năm 2017 tại Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Thị Xuân Hoa và TS. Nguyễn Thị Thu Hương, tập trung vào đề tài: “Đánh giá hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong ở một số trường đại học công lập Việt Nam dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA”.
Bối cảnh và tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học (GDĐH) nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành nhiệm vụ hàng đầu. Kiểm định chất lượng và đảm bảo chất lượng (ĐBCL) được xác định là công cụ quan trọng để quản lý và thúc đẩy các cơ sở GDĐH nâng cao chất lượng.
Mặc dù hệ thống ĐBCL cấp quốc gia (với Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo) cùng các đơn vị chuyên trách ĐBCL tại các trường đại học đã từng bước được thiết lập, thực tiễn triển khai công tác ĐBCL bên trong (Internal Quality Assurance - IQA) tại phần lớn các trường đại học Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế:
- Hoạt động IQA còn mang tính đối phó với yêu cầu kiểm định bên ngoài chứ chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu nội sinh nhằm tự cải thiện;
- Các tiêu chuẩn chất lượng hiện hành của Việt Nam (theo thang nhị phân: đạt / chưa đạt) chưa thể hiện rõ mức độ phân tầng và chuẩn mực chất lượng;
- Đội ngũ nhân sự làm công tác ĐBCL còn thiếu về số lượng, kiêm nhiệm và hạn chế về năng lực chuyên môn;
- Hệ thống thông tin phục vụ tự đánh giá và quản lý còn yếu, thiếu đồng bộ và mức độ minh bạch chưa cao;
- Nhu cầu đối sánh, tiếp cận chuẩn mực khu vực của Mạng lưới Đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN (AUN-QA) ngày càng cấp thiết nhưng chưa có nhiều công trình đánh giá toàn diện mức độ đáp ứng thực tế của các trường công lập theo bộ tiêu chí này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động ĐBCL bên trong trường đại học; đánh giá thực trạng hoạt động IQA tại một số trường đại học công lập Việt Nam và mức độ đáp ứng theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động IQA theo chuẩn khu vực.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ĐBCL bên trong các trường đại học.
- Xác định các thành tố của hoạt động ĐBCL bên trong trường đại học dựa theo mô hình của AUN-QA.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động ĐBCL bên trong của một số trường đại học công lập Việt Nam.
- Đánh giá mức độ đáp ứng của hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường đại học công lập Việt Nam dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA.
- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động ĐBCL bên trong của các trường đại học Việt Nam.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu:
- Có những hoạt động ĐBCL bên trong nào đang được thực hiện ở các trường đại học Việt Nam?
- Các hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường đại học công lập Việt Nam được đánh giá như thế nào từ phía cán bộ quản lý (CBQL), giảng viên (GV), nhân viên (NV) và sinh viên (SV) trong trường?
- Mức độ đáp ứng của hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường đại học công lập Việt Nam dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Hoạt động ĐBCL bên trong ở các trường đại học Việt Nam đang được triển khai theo các mặt thực hiện chức năng của nhà trường, phù hợp với mô hình của AUN-QA.
- Các bên liên quan trong trường đánh giá các hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường đại học công lập Việt Nam có hiệu quả tích cực thể hiện rõ qua những thay đổi trong tổ chức và các mặt hoạt động của nhà trường.
- Hoạt động ĐBCL bên trong ở một số trường đại học công lập Việt Nam chưa đáp ứng hoàn toàn dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc đánh giá hoạt động ĐBCL bên trong của một số trường đại học công lập Việt Nam dựa theo tiêu chí chất lượng của AUN-QA.
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động ĐBCL bên trong của một số trường đại học công lập Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: Dữ liệu nghiên cứu tại các trường khảo sát trong giai đoạn 2010 – 2015, có cập nhật bổ sung đến tháng 11/2016.
- Không gian: Khảo sát thực nghiệm tại 06 trường đại học công lập đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam.
- Nội dung: Tập trung đánh giá thực trạng và mức độ đáp ứng của 11 nhóm hoạt động ĐBCL bên trong theo khung tiêu chí chất lượng của AUN-QA.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử phát triển và các quan điểm lý thuyết về ĐBCL
Công tác ĐBCL trong giáo dục đại học đã trải qua quá trình phát triển lâu dài. Luận án điểm lại lịch sử từ thế kỷ XIII tại Đại học Paris, sự hình thành các tổ chức kiểm định y khoa tại Mỹ cuối thế kỷ XIX, giai đoạn 1950 – 1989 với việc hoàn thiện hệ thống kiểm định tổng thể tại Mỹ và châu Âu đưa đánh giá ngoài cấp quốc gia vào giữa thập niên 1980, cho đến giai đoạn phát triển từ năm 1990 trở lại đây (Lewis và cộng sự, 2009; AUN, 2009).
Về mặt lý thuyết, luận án hệ thống hóa các quan điểm:
- Barnett (1987) và Church (1988) tiếp cận ĐBCL theo mô hình đầu vào – quá trình – đầu ra.
- Lawrence và Dangerfield (2001) chỉ ra xu hướng lịch sử của giới học thuật chú trọng đo lường đầu vào hơn đầu ra.
- Việc chuyển giao các mô hình quản lý chất lượng từ công nghiệp và kinh doanh sang giáo dục như ISO 9001 (khởi thảo từ 1955, phiên bản ISO 9001:2008 với 4 tiêu chuẩn cốt lõi).
- UNESCO (2003, 2011) xác định ĐBCL là các thủ tục đánh giá và quản lý có hệ thống nhằm giám sát hoạt động, nhấn mạnh ba yếu tố: kiểm soát chất lượng, trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục (kế thừa ba nguyên tắc của Harvey, 1999).
- INQAAHE (2004), Vlăsceanu và cộng sự (2007) nhấn mạnh ĐBCL gắn liền với nhận thức, cam kết và văn hóa chất lượng.
- Arsovski (2007) và Gvaramadze (2008) phân tích 7 nội dung ĐBCL bên trong tại châu Âu nhấn mạnh trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục.
- Reisberg (2010) quan niệm ĐBCL là quá trình tự điều chỉnh và phản ánh liên tục.
Về mối quan hệ giữa ĐBCL bên trong (IQA) và ĐBCL bên ngoài (EQA): Parri (2006), Dill (2007), Vroeijenstijn (2003), Karkoszka (2009), EUA (2010), Lewis (2012) đều nhấn mạnh EQA tạo áp lực giải trình, trong khi IQA là hoạt động tự thân; tự đánh giá đóng vai trò là cầu nối cốt lõi giữa IQA và EQA (Wantannatorn, 2004).
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Đức Chính (2002), Nguyễn Hữu Châu (2006), Bùi Mạnh Nhị và cộng sự (2006), Vũ Thị Phương Anh (2005), Nguyễn Kim Dung (2007, 2012), Lê Đức Ngọc (2008), Phạm Xuân Thanh (2009, 2011), Trần Khánh Đức (2009), Ngô Doãn Đãi (2012), Nguyễn Văn Hiệu (2012) đã phân tích mô hình ĐBCL 3 thành phần (Bộ GD&ĐT – Trung tâm Kiểm định – Trường Đại học), xác định các thành tố IQA và chỉ ra rằng việc triển khai IQA tại Việt Nam còn nặng tính đối phó.
Tổng quan 4 nhóm hoạt động ĐBCL bên trong trọng tâm
Luận án đi sâu điểm luận 4 hoạt động cốt lõi xoay quanh nhân tố con người trong trường đại học:
+-------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC HOẠT ĐỘNG ĐBCL BÊN TRONG CỐT LÕI |
+------------------------------------+------------------------------------------+
| 1. Hoạt động giám sát | 2. Hoạt động đánh giá người học |
| - Lấy ý kiến SV về giảng dạy | - Đánh giá quá trình & tổng kết |
| - Nghiên cứu của Lawall (1998), | - Nghiên cứu của QAA, Phan Bích Ngọc |
| Wu (1992), Phạm Văn Quyết (2011),| (2009), Cấn Thị Thanh Hương & Lê Đức |
| Vũ Thị Phương Anh (2005), | Ngọc (2010), Lại Phương Liên (2013), |
| Lê Văn Hảo (2010), | Thái Thị Nga (2014), Trần Thị Hoài |
| Trần Đức Hiếu (2012)... | (2015)... |
+------------------------------------+------------------------------------------+
| 3. Hoạt động ĐBCL CB, VC | 4. Hoạt động tự đánh giá |
| - Nâng cao năng lực đội ngũ & NCKH | - Khâu xương sống của IQA |
| - Nghiên cứu của Freeman (1989), | - Nghiên cứu của Batool & Quershi (2004),|
| Gebhard (2006), Đỗ Tiến Sỹ | Lê Mỹ Phong (2011, 2013), |
| (2010), Nguyễn Văn Đệ (2013), | Nguyễn Quang Giao (2014), |
| Thái Văn Thành & cs (2014, 2015) | Nguyễn Thị Thu Hiền (2014)... |
+------------------------------------+------------------------------------------+
-
Hoạt động giám sát (lấy ý kiến người học về hoạt động giảng dạy):
- Kinh nghiệm quốc tế: Hệ thống đánh giá của Australia, Pháp, thang đo 32 items của Lawall (1998) tại Đại học Manitoba (Canada), Wu (1992) tại Đài Loan.
- Tại Việt Nam: Lộ trình từ năm học 2007-2008 của Bộ GD&ĐT; nghiên cứu của Phạm Văn Quyết & Lê Thị Hồng Duyên (2011), Vũ Thị Phương Anh (2005 tại ĐHQG TP.HCM); các nghiên cứu điển hình tại ĐH Nha Trang (Lê Văn Hảo, 2010), ĐH Sư phạm Hà Nội, Huế, TP.HCM, Điện lực (Trần Đức Hiếu, 2012), ĐH Kinh tế và QTKD Thái Nguyên (Trần Xuân Kiên, 2014), HUTECH (Nguyễn Thị Sáu, Văn Thị Thanh Tuyền, 2014), ĐH Nguyễn Tất Thành (Lê Thị Kim Oanh, 2014), ĐH Y Dược Huế (Hoàng Đình Huề, 2011), khảo sát người sử dụng lao động tại TP.HCM (Lê Chi Lan, 2015). Các tác giả thống nhất kết quả khảo sát người học chỉ là kênh thông tin tham khảo phục vụ cải tiến, không phải thước đo duy nhất để đánh giá tư cách giảng viên.
-
Hoạt động đánh giá người học:
- Quan điểm của QAA (Anh); phân loại 3 hình thức đánh giá (chẩn đoán, thường xuyên, tổng kết); các công trình của Phan Bích Ngọc (2009), Lê Thanh Oai (2014), Thái Thị Nga (2014), Cấn Thị Thanh Hương & Lê Đức Ngọc (2010), Lại Phương Liên (2013), Đặng Vũ Kim Chi & Võ Thị Bích Thảo (2014), Trần Thị Hoài & Phạm Văn Phong (2015) chỉ ra các hạn chế của kiểm tra đánh giá truyền thống và đề xuất chuyển dịch sang đánh giá tiếp cận năng lực dựa trên chuẩn đầu ra.
-
Hoạt động ĐBCL cán bộ, viên chức:
- Vai trò trưởng bộ môn trong ĐBCL (Thái Văn Thành, Nguyễn Như An, Phan Hùng Thư, Vũ Văn Hưng, 2014, 2015); liên kết đội ngũ vùng ĐBSCL (Nguyễn Văn Đệ, 2013); tự bồi dưỡng và tự khám phá năng lực giảng dạy (Freeman, 1989; Gebhard, 2006; Nguyễn Thị Hương Giang, 2014); phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên trẻ (Đỗ Tiến Sỹ, 2010; Vương Thị Ngọc Huệ, 2012; Nguyễn Tuấn Lê, 2015).
-
Hoạt động tự đánh giá:
- Batool & Quershi (2004), Mohamedbhai (2006) xác định tự đánh giá là xương sống của IQA.
- Thực trạng triển khai tại Việt Nam (Lê Mỹ Phong, 2011, 2013; Nguyễn Quang Giao, 2014; Nguyễn Thị Thu Hiền, 2014): Tính đến 30/9/2016 có 209 trường hoàn thành báo cáo tự đánh giá, nhưng còn hạn chế về nhận thức, tính kiêm nhiệm của đội ngũ và việc thực thi các kế hoạch hành động sau tự đánh giá.
Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu nghiên cứu cục bộ từng khâu riêng lẻ (như lấy ý kiến người học, tự đánh giá, hoặc bồi dưỡng giảng viên) hoặc dừng lại ở việc đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước (với thang đo nhị phân 2 mức). Chưa có công trình nào đánh giá một cách hệ thống, thực chứng toàn bộ 11 thành tố của hoạt động IQA tại các trường đại học công lập Việt Nam dựa trên bộ tiêu chuẩn đa mức (thang 7 mức) của AUN-QA. Đây chính là khoảng trống khoa học mà luận án giải quyết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và cách tiếp cận
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên hai lý thuyết quản lý nền tảng kết hợp với mô hình ĐBCL khu vực:
-
Tiếp cận lý thuyết hệ thống:
- Dựa trên quan điểm của Bertalanffy về hệ thống mở (gồm đầu vào – quá trình – đầu ra và cơ chế phản hồi thông tin để điều chỉnh sự tương tác với môi trường), Matthews (1992) và các thuộc tính hệ thống của Ackoff (1981: tính toàn thể, tính tương tác, tính cân bằng).
- Vận dụng: Xem xét trường đại học như một hệ thống con trong hệ thống GDĐH quốc gia. Hoạt động IQA là một chỉnh thể hữu cơ, trong đó bộ phận chuyên trách ĐBCL liên kết mật thiết với các phòng ban, khoa, bộ môn nhằm điều chỉnh các quá trình hoạt động hướng đến mục tiêu chung.
-
Tiếp cận lý thuyết tổ chức:
- Kế thừa các quan điểm của Barnard (sự hợp tác, mức độ thỏa mãn và sự đồng thuận trong tổ chức), Mintzberg (1979: kiểm soát và ảnh hưởng của môi trường bên ngoài), Fuhs (2009: môi trường chung và môi trường đặc trưng của tổ chức), Mc Namara (2006: chu kỳ lặp đầu vào - quá trình - đầu ra - kết quả), Irefin và cộng sự (2012), Ivanko (2013).
- Vận dụng: Phân tích cơ chế vận hành, sự phân công lao động, các quy trình điều hành bằng văn bản và sự thay đổi trong nhận thức, hành vi của các nhóm chủ thể (CBQL, GV, NV, SV) khi thực hiện ĐBCL bên trong.
-
Mô hình ĐBCL của AUN-QA:
- Sử dụng Khung ĐBCL cấp cơ sở giáo dục của AUN-QA (phiên bản 2, 2016) và các tài liệu hướng dẫn của AUN (2004, 2006, 2009, 2011, 2016).
- Tiếp cận quan niệm "chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu" (SEAMEO, 2001, 2003) và chất lượng là trách nhiệm nội tại của nhà trường (AUN, 2009).
- Thao tác hóa các yêu cầu ĐBCL bên trong thành 11 nhóm hoạt động cụ thể và đánh giá mức độ đáp ứng theo thang điểm của AUN-QA.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng:
| Phương pháp nghiên cứu |
Kỹ thuật / Công cụ thực hiện |
Mục đích sử dụng |
| Nghiên cứu định tính |
- Khảo cứu văn bản, tài liệu lý luận và pháp quy. - Phỏng vấn sâu bán cấu trúc. - Phương pháp chuyên gia. - Phương pháp quan sát. |
- Xây dựng cơ sở lý thuyết và thao tác hóa khái niệm. - Thu thập ý kiến chuyên sâu của lãnh đạo, CBQL, GV, NV, SV. - Tham vấn chuyên gia đo lường - đánh giá để hiệu chỉnh bộ công cụ. |
| Nghiên cứu định lượng |
- Trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi (phiếu thăm dò ý kiến). - Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, ĐTB, độ lệch chuẩn). - Thống kê suy luận (kiểm định giả thuyết, đối sánh trung bình). |
- Khảo sát diện rộng trên các nhóm đối tượng (CBQL, GV, NV, SV). - Phân tích thực trạng và lượng hóa mức độ đáp ứng theo các tiêu chí của AUN-QA. |
Quy trình thiết kế công cụ và chọn mẫu
- Quy trình xây dựng công cụ khảo sát: Gồm 4 bước: (1) Thao tác hóa các thành tố ĐBCL bên trong theo tiêu chí AUN-QA; (2) Thiết kế dự thảo bộ công cụ (phiếu hỏi và khung phỏng vấn); (3) Thử nghiệm bộ công cụ trên mẫu nhỏ, xin ý kiến chuyên gia để hoàn thiện; (4) Chuẩn hóa bộ công cụ chính thức gồm các phiếu khảo sát dành riêng cho CBQL, GV, SV, NV và bộ câu hỏi phỏng vấn sâu bán cấu trúc.
- Mẫu nghiên cứu: Khảo sát tại 06 trường đại học công lập trực thuộc ba miền Bắc – Trung – Nam của Việt Nam. Mẫu khảo sát định lượng thu thập ý kiến từ 4 nhóm đối tượng: Cán bộ quản lý, Giảng viên, Nhân viên và Sinh viên. Dữ liệu phỏng vấn định tính được trích biên bản phục vụ đối chiếu, kiểm chứng kết quả định lượng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan và cơ sở lý thuyết
Chương này tập trung giải quyết nhiệm vụ 1 và nhiệm vụ 2 của luận án:
- Phân tích bối cảnh ra đời, sự tiến hóa của ĐBCL GDĐH thế giới, khu vực ASEAN và Việt Nam.
- Tổng thuật các công trình nghiên cứu về ĐBCL, phân định ranh giới và mối quan hệ hữu cơ giữa IQA và EQA.
- Phân tích sâu 4 nhóm hoạt động cốt lõi của IQA trong y văn: giám sát hoạt động giảng dạy, kiểm tra đánh giá người học, phát triển đội ngũ giảng viên/cán bộ, và công tác tự đánh giá.
- Luận giải cơ sở phương pháp luận: Vận dụng lý thuyết hệ thống mở (Bertalanffy, Ackoff) và lý thuyết tổ chức (Barnard, Mintzberg, Fuhs) vào quản trị chất lượng trường đại học.
- Phân tích nội hàm khái niệm chất lượng, chất lượng giáo dục, hệ thống IQA theo AUN-QA; phân tích Khung ĐBCL cấp cơ sở giáo dục của AUN-QA phiên bản 2 (2016).
- Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu hoạt động ĐBCL bên trong gồm 11 nhóm hoạt động cấu thành.
Chương 2. Thiết kế và tổ chức nghiên cứu
Chương này trình bày toàn bộ phương pháp luận thực chứng và quy trình triển khai:
- Sơ đồ hóa quy trình nghiên cứu tổng thể từ nghiên cứu lý thuyết, thao tác hóa khái niệm, thiết kế công cụ, chọn mẫu, thu thập dữ liệu đến xử lý thông tin.
- Thao tác hóa 11 nhóm hoạt động ĐBCL bên trong thành các chỉ báo cụ thể tương thích với các tiêu chí của AUN-QA.
- Trình bày quy trình thiết kế, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ khảo sát (phiếu thăm dò ý kiến và khung phỏng vấn sâu). Phân tích thuận lợi, khó khăn trong quá trình xây dựng công cụ.
- Giới thiệu đặc điểm địa bàn nghiên cứu và 06 trường đại học công lập trong mẫu chọn đại diện ba miền Bắc, Trung, Nam.
- Phương pháp chọn mẫu định lượng và mẫu phỏng vấn định tính đảm bảo tính đại diện.
- Quy trình phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê để tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn và kiểm định các tương quan.
Chương 3. Thực trạng và mức độ đáp ứng của hoạt động đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học dựa theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA
Chương 3 là phần thực nghiệm trọng tâm, giải quyết nhiệm vụ 3, 4 và 5 của luận án. Nội dung được chia thành ba phần chính:
1. Thực trạng triển khai 11 nhóm hoạt động ĐBCL bên trong
Luận án phân tích chi tiết dữ liệu khảo sát và phỏng vấn sâu trên 11 nhóm hoạt động:
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| 11 NHÓM HOẠT ĐỘNG ĐBCL BÊN TRONG ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ |
+---+----------------------------------------------------+---+---------------------------------------+
| 1 | Xây dựng, triển khai chính sách ĐBCL, tầm nhìn, | 7 | Triển khai quy trình ĐBCL dịch vụ |
| | sứ mạng, văn hóa, mạng lưới & quan hệ đối ngoại, | | hỗ trợ người học |
| | hệ thống IQA | | |
+---+----------------------------------------------------+---+---------------------------------------+
| 2 | Xây dựng, triển khai hệ thống giám sát; quản trị; | 8 | Hoạt động tự đánh giá |
| | lãnh đạo và quản lý | | |
+---+----------------------------------------------------+---+---------------------------------------+
| 3 | Rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi | 9 | Hoạt động thẩm định nội bộ |
+---+----------------------------------------------------+---+---------------------------------------+
| 4 | Triển khai quy trình ĐBCL việc đánh giá người học | 10| Thu thập, phân tích hệ thống |
| | | | thông tin |
+---+----------------------------------------------------+---+---------------------------------------+
| 5 | Triển khai quy trình ĐBCL cán bộ, viên chức | 11| Công bố thông tin & xây dựng, ban |
| | | | hành sổ tay ĐBCL |
+---+----------------------------------------------------+---+---------------------------------------+
| 6 | Triển khai quy trình ĐBCL cơ sở vật chất, trang | | |
| | thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập | | |
+---+----------------------------------------------------+---+---------------------------------------+
- Nguồn thông tin và nhận thức về IQA: Phân tích tỷ lệ CBQL, GV, SV biết về hoạt động ĐBCL, nguồn tiếp cận thông tin, và các đối tượng tham gia. Nhận thức của các bên liên quan đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều giữa các nhóm đối tượng.
- Thực trạng các quy trình cụ thể:
- Chính sách và hệ thống giám sát: Đã hình thành văn bản nhưng việc giám sát định kỳ tại một số đơn vị còn hình thức.
- Rà soát hoạt động cốt lõi: Hoạt động đào tạo được rà soát thường xuyên hơn so với hoạt động nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng.
- Đánh giá người học: Có sự chuyển biến trong đa dạng hóa hình thức thi/kiểm tra, tuy nhiên việc phản hồi kết quả đánh giá để người học cải thiện còn hạn chế.
- ĐBCL cán bộ, viên chức: Đã có quy trình tuyển dụng và đánh giá xếp loại, nhưng công tác bồi dưỡng theo chuẩn năng lực và phát triển đội ngũ chuyên trách ĐBCL còn gặp khó khăn.
- Cơ sở vật chất và dịch vụ hỗ trợ: Đạt mức trung bình khá; hạ tầng thư viện, công nghệ thông tin và dịch vụ tư vấn SV cần tiếp tục đầu tư.
- Tự đánh giá, thẩm định nội bộ, hệ thống thông tin, công bố thông tin và sổ tay ĐBCL: Tự đánh giá cấp trường được thực hiện tốt nhất; thẩm định nội bộ và xây dựng sổ tay IQA là những khâu mới, nhiều trường còn lúng túng khi xây dựng và ban hành.
2. Mức độ đáp ứng theo tiêu chí đánh giá chất lượng của AUN-QA
- Phân tích điểm trung bình (ĐTB) và đối sánh mức độ đáp ứng của từng hoạt động dựa theo thang tiêu chí 7 mức của AUN-QA.
- So sánh đánh giá giữa các bên liên quan (CBQL, GV, NV, SV) về từng tiêu chí.
- Bảng tổng hợp mức độ đáp ứng chung của 11 hoạt động IQA tại 06 trường khảo sát:
| TT |
Nhóm hoạt động ĐBCL bên trong theo AUN-QA |
Đánh giá tổng hợp mức độ đáp ứng |
| 1 |
Chính sách ĐBCL; tầm nhìn, sứ mạng và văn hóa; mạng lưới đối ngoại |
Đã hình thành hệ thống văn bản; mức độ thực thi đạt mức trung bình khá |
| 2 |
Hệ thống giám sát; quản trị; lãnh đạo và quản lý |
Có cơ chế giám sát nhưng tính đồng bộ giữa các cấp chưa cao |
| 3 |
Rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi |
Tập trung chủ yếu vào đào tạo; mảng NCKH còn hạn chế |
| 4 |
Quy trình ĐBCL việc đánh giá người học |
Đáp ứng tương đối tốt quy chế; cần đẩy mạnh tiếp cận chuẩn đầu ra |
| 5 |
Quy trình ĐBCL cán bộ, viên chức |
Quy trình cơ bản đầy đủ; cần chú trọng quy hoạch và đào tạo bồi dưỡng |
| 6 |
ĐBCL cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo |
Đáp ứng mức cơ bản; mức độ hài lòng của SV và GV ở mức trung bình |
| 7 |
Quy trình ĐBCL dịch vụ hỗ trợ người học |
Có hệ thống hỗ trợ nhưng các dịch vụ chuyên sâu còn thiếu |
| 8 |
Hoạt động tự đánh giá |
Là khâu đạt mức độ đáp ứng tốt nhất trong hệ thống IQA |
| 9 |
Hoạt động thẩm định nội bộ |
Mới triển khai thí điểm; chưa thực hiện định kỳ, bài bản |
| 10 |
Thu thập, phân tích hệ thống thông tin |
Cơ sở dữ liệu còn phân tán, tính liên thông và minh bạch chưa cao |
| 11 |
Công bố thông tin và xây dựng, ban hành sổ tay ĐBCL |
Đã thực hiện công khai 3 công khai; sổ tay ĐBCL chưa hoàn thiện đồng bộ |
- Nhận định chung: Hoạt động ĐBCL bên trong tại các trường đại học công lập khảo sát đã được định hình và triển khai theo chức năng, có tác động tích cực đến nhận thức và hoạt động của nhà trường. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng so với tiêu chí chuẩn của AUN-QA chưa đạt mức tối ưu (chưa đáp ứng hoàn toàn), còn có sự chênh lệch giữa các trường và giữa các nhóm hoạt động.
3. Đề xuất giải pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động ĐBCL bên trong
Luận án đề xuất hệ thống giải pháp khả thi gồm:
- Nâng cao nhận thức và cam kết của lãnh đạo, cán bộ, giảng viên về văn hóa chất lượng và tiêu chuẩn AUN-QA.
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và thể chế hóa quy trình IQA: Kiện toàn bộ phận chuyên trách ĐBCL, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm.
- Chuẩn hóa quy trình rà soát định kỳ các hoạt động cốt lõi và đổi mới phương pháp đánh giá người học theo chuẩn đầu ra.
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên gắn với tiêu chuẩn chất lượng.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và hoàn thiện các dịch vụ hỗ trợ người học.
- Thiết lập quy trình thẩm định nội bộ định kỳ và nâng cấp hệ thống thông tin quản lý ĐBCL.
- Hoàn thiện, ban hành và áp dụng rộng rãi Sổ tay ĐBCL bên trong tại cơ sở giáo dục.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa, làm rõ các khái niệm, mô hình và nguyên lý lý luận về ĐBCL và hệ thống ĐBCL bên trong (IQA) trong giáo dục đại học.
- Vận dụng lý thuyết hệ thống mở và lý thuyết tổ chức để phân tích cấu trúc, cơ chế vận hành và tương tác của các thành tố IQA trong trường đại học công lập Việt Nam.
- Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu đánh giá hoạt động ĐBCL bên trong ở các trường đại học công lập Việt Nam dựa theo bộ tiêu chí chất lượng cấp cơ sở giáo dục của AUN-QA.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Thiết kế và thử nghiệm thành công bộ công cụ khảo sát thực chứng (phiếu thăm dò ý kiến nhiều đối tượng và khung phỏng vấn sâu bán cấu trúc) chuẩn hóa theo tiêu chí AUN-QA, làm tài liệu tham khảo cho các trường đại học tự đo lường và đánh giá hệ thống IQA.
- Phân tích và phác họa bức tranh thực trạng, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và lượng hóa mức độ đáp ứng của 11 nhóm hoạt động IQA tại 06 trường đại học công lập đại diện ba miền.
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giúp nâng cao nhận thức về văn hóa chất lượng cho các nhóm khách thể tham gia khảo sát (CBQL, GV, NV, SV).
- Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ, có tính khả thi nhằm hỗ trợ các trường đại học công lập củng cố hệ thống IQA và từng bước tiếp cận chuẩn mực ĐBCL khu vực Đông Nam Á.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi mẫu: Nghiên cứu thực hiện trên mẫu 06 trường đại học công lập; chưa mở rộng khảo sát sang khối các trường ngoài công lập hoặc các cơ sở giáo dục đại học có tính chất đặc thù.
- Thời gian dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu phản ánh thực trạng trong giai đoạn 2010 – 2015 và bổ sung đến tháng 11/2016, gắn với bối cảnh triển khai Bộ tiêu chuẩn kiểm định trường ĐH giai đoạn này.
Kiến nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi đánh giá hoạt động IQA theo chuẩn AUN-QA trên quy mô toàn quốc, bao gồm cả các trường đại học ngoài công lập và các viện nghiên cứu đào tạo tiến sĩ.
- Nghiên cứu sâu về cơ chế xây dựng và lan tỏa "văn hóa chất lượng" bên trong nhà trường và mối liên hệ với hiệu quả IQA.
- Đánh giá tác động của việc đạt chuẩn kiểm định chất lượng cấp chương trình và cấp cơ sở giáo dục theo AUN-QA đối với tỷ lệ việc làm và mức độ hài lòng của đơn vị sử dụng lao động.
- Nghiên cứu giải pháp tích hợp hệ thống thông tin quản lý ĐBCL (MIS-QA) hiện đại phục vụ công tác thẩm định nội bộ và tự đánh giá liên tục.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục, Quản lý giáo dục, Giáo dục học có thể tham khảo khung lý thuyết, phương pháp thao tác hóa khái niệm từ tiêu chuẩn AUN-QA sang công cụ đo lường, và quy trình xử lý dữ liệu nghiên cứu hỗn hợp.
- Lãnh đạo và cán bộ chuyên trách ĐBCL tại các trường đại học: Có thể sử dụng trực tiếp bộ công cụ khảo sát (phiếu hỏi và khung phỏng vấn trong phần phụ lục) để rà soát, tự đánh giá thực trạng hệ thống ĐBCL bên trong tại đơn vị mình; tham khảo các giải pháp để xây dựng và ban hành Sổ tay IQA.
- Các nhà hoạch định chính sách giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục): Tham khảo các phát hiện thực chứng về khoảng cách giữa tiêu chuẩn kiểm định trong nước và chuẩn mực AUN-QA để tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phân tầng và bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu cốt lõi và phạm vi nghiên cứu của luận án là gì?
Luận án nhằm nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động ĐBCL bên trong, khảo sát thực trạng và đánh giá mức độ đáp ứng theo tiêu chí chất lượng AUN-QA tại 06 trường đại học công lập ở ba miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam (dữ liệu giai đoạn 2010 – 2015, bổ sung đến 11/2016), từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả IQA theo chuẩn khu vực.
2. Luận án sử dụng những cơ sở lý thuyết tiếp cận nào để nghiên cứu hệ thống ĐBCL bên trong?
Luận án phối hợp ba cơ sở lý thuyết chính:
- Tiếp cận lý thuyết hệ thống mở (Bertalanffy, Ackoff): Xem trường đại học là một hệ thống con và IQA là một chỉnh thể tương tác liên tục với môi trường bên ngoài thông qua cơ chế phản hồi thông tin;
- Tiếp cận lý thuyết tổ chức (Barnard, Mintzberg, Fuhs, Mc Namara): Phân tích phân công lao động, các mối quan hệ quyền lực, nhận thức và hành vi của các chủ thể nội bộ;
- Khung ĐBCL cấp cơ sở giáo dục của AUN-QA (phiên bản 2, 2016): Thao tác hóa thành 11 nhóm hoạt động ĐBCL bên trong cụ thể.
3. Bộ công cụ khảo sát của luận án được thiết kế gồm những thành phần nào?
Bộ công cụ bao gồm:
- Các phiếu thăm dò ý kiến (bảng hỏi định lượng) được thiết kế riêng cho 4 nhóm khách thể: Cán bộ quản lý, Giảng viên, Nhân viên và Sinh viên;
- Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu bán cấu trúc dành cho lãnh đạo trường, CBQL, GV, NV và SV nhằm thu thập dữ liệu định tính kiểm chứng.
4. Bốn hoạt động ĐBCL bên trong nào được tác giả tổng quan y văn và phân tích sâu sắc nhất?
Tác giả tập trung điểm luận 4 hoạt động xoay quanh nhân tố con người:
- Hoạt động giám sát: Trọng tâm là lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên;
- Hoạt động đánh giá người học: Đổi mới kiểm tra đánh giá tiếp cận năng lực và chuẩn đầu ra;
- Hoạt động ĐBCL cán bộ, viên chức: Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực NCKH và vai trò của trưởng bộ môn;
- Hoạt động tự đánh giá: Hoạt động xương sống kết nối giữa ĐBCL bên trong và ĐBCL bên ngoài.
5. Luận án chỉ ra điểm khác biệt cơ bản nào giữa thang đánh giá của Việt Nam và tiêu chí AUN-QA?
Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học ban hành theo Quyết định 65/2007/QĐ-BGDĐT và Thông tư 37/2012/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT áp dụng thang đo nhị phân 2 mức (Đạt / Chưa đạt), chưa phản ánh chi tiết các mức độ chất lượng tiệm tiến. Trong khi đó, khung ĐBCL của AUN-QA sử dụng thang đánh giá 7 mức (từ mức 1 - hoàn toàn chưa có gì đến mức 7 - xuất sắc), giúp nhà trường định vị chính xác mức độ trưởng thành của hệ thống IQA để cải tiến liên tục hướng đến chuẩn mực quốc tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Anh Vũ là một công trình nghiên cứu hệ thống, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận quản trị hệ thống - tổ chức và dữ liệu thực nghiệm tại 06 trường đại học công lập Việt Nam. Bằng việc thao tác hóa Khung ĐBCL cấp cơ sở giáo dục của AUN-QA thành 11 nhóm hoạt động IQA cụ thể, luận án đã làm rõ bức tranh thực trạng, chỉ ra những điểm còn khoảng cách so với tiêu chí khu vực và lượng hóa mức độ đáp ứng của từng khâu. Kết quả nghiên cứu và bộ công cụ khảo sát của luận án cung cấp luận cứ khoa học cùng các giải pháp ứng dụng thiết thực, góp phần hỗ trợ các trường đại học Việt Nam xây dựng văn hóa chất lượng và hoàn thiện hệ thống ĐBCL bên trong trong tiến trình hội nhập quốc tế.