Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1. Tổng quan tình hình địa phương. Về tự nhiên Vị trí địa lý Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ, có toạ độ địa lý từ 17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông,.
Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Hà Tĩnh có thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và 10 huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và Lộc Hà(trong đó có 4 huyện miền núi); có 261 xã, phường, thị trấn, 7 12 z huyện, thị dọc Quốc lộ 1A; 3 huyện dọc theo đường Hồ Chí Minh và 4 huyện có tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua. Theo trục Đông - Tây, Hà Tĩnh có Quốc lộ 8, Quốc lộ 12 qua Lào và Thái Lan. Diện tích đất tự nhiên 6.055,6 km2, dân số Hà Tĩnh có 1.554 người (điều tra dân số ngày 01/04/2009), có 127 km đường quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, ngoài ra, Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế - xã hội.
Những đặc điểm được tóm tắt trên đây cho thấy rằng, vị trí địa lí của Hà Tĩnh là khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Giao thương có thể được tiến hành dễ dàng bằng đường bộ hoặc đường thuỷ. Tuy nhiên, trong nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng, doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng chưa thực sự phát huy được các lợi thế ấy. Đặc điểm khí hậu Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng. Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao. Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè. Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18-22oC, ở mùa hè bình quân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33oC.
Tuy nhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất, màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất. Tài nguyên biển Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km với nhiều cửa sông lớn, là những ngư trường lớn để khai thác hải sản. Theo kết quả nghiên cứu, biển Hà Tĩnh có trên 267 loài cá, thuộc 90 họ, trong đó có 60 loài có giá trị kinh tế cao, 20 loài tôm, nhiều loài nhuyễn thể như sò, mực. 13 z Bờ biển Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng về khoáng sản như cát quặng và nhiều vị trí có thể xây dựng cảng (hiện đã có 2 cảng vận tải, 2 cảng cá).
Nhiều bãi biển đẹp như Thiên Cầm, Xuân Thành, Thạch Hải, Đèo Con, đã được khai thác phục vụ nghỉ dưỡng và du lịch. Về kinh tế. Kinh tế tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP đạt cao hơn so với những năm trước; công tác xúc tiến đầu tư đạt kết quả tốt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10%, trong đó: khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,9%, thương mại - dịch vụ tăng 10,1%; khu vực nông - lâm - ngư nghiệp tăng 3,6%.
Giá trị sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp đạt 2.724 tỷ đồng, tăng 7,5% so với năm 2007, trong đó nông nghiệp đạt 2.155 tỷ đồng, tăng 6,88%; lâm nghiệp đạt 221 tỷ đồng, tăng 8,25%; thuỷ sản 348 tỷ đồng, tăng 10,98%. Năm 2005, GDP tính theo giá thực tế ước đạt 5.905 tỷ đồng, bằng 0,72% GDP cả nước. Về chính sách của tỉnh Hà Tĩnh về tiếp cận nguồn vốn. - Nguồn vốn xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm So với mặt bằng chung của cả nước thì Hà Tĩnh vẫn được xếp vào một trong những tỉnh nghèo cần phải có những phương pháp cụ thể để xúc tiến và làm thay đổi bộ mặt chung của tỉnh.
Vì vậy trong những thời gian qua công tác xóa đói giảm nghèo đạt được thành tựu đáng kể, nhiều biện pháp xóa đói giảm nghèo đã được triển khai và đạt kết quả tốt. Đời sống của người nghèo đã được nâng lên một bước. Cùng với chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, tỉnh đã vận động và triển khai các dự án ODA, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu lao động và đi xây dựng vùng kinh tế mới. Với những nỗ lực nêu trên, trong 5 năm gần đây đã tạo việc làm cho hơn 142 nghìn người.
Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm xuống rõ rệt. Tuy vậy, theo chuẩn nghèo mới được ban hành áp dụng cho giai đoạn 2006-2010, thì tỷ lệ hộ đói nghèo của Hà Tĩnh còn cao: 38,62%, (bình quân toàn vùng Bắc Trung Bộ 14 z năm 2004 là 29,4%). Vì vậy, vấn đề xóa đói giảm nghèo cần được đặc biệt quan tâm trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. - Nguồn vốn từ chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh: Ngày 12/7/2007, Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 30/2007/QĐ-UBND ban hành Quy định một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Theo đó, UBND tỉnh Hà Tĩnh khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước có dự án đầu tư phát triển sản xuất trên địa bàn tỉnh được hưởng ưu đãi theo quy định của Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thực hiện luật. Ngoài các ưu đã được hưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước, khi đầu tư vào Hà Tĩnh các doanh nghiệp còn được hưởng các ưu đãi của tỉnh theo quy định của Quyết định này. Ngoài ra để góp phần phát triển kinh tế của tỉnh nhà thì Hà Tĩnh cũng đã có một số chính sách cũng như thu hút nhân tài về tỉnh làm việc. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Từ trước đến nay ở Việt Nam đã có rất nhiều cuộc điều tra cũng như các bài viết về các DNNVV, tuy nhiên chưa có đủ các thông tin cần thiết về doanh nghiệp đặc biệt là góc độ Xã hội học.
Như kết quả nghiên cứu do HSBC tại Việt Nam vừa tiến hành, các DNNVV của Việt Nam đang rất lạc quan về tương lai. Cuộc khảo sát mức độ tin tưởng của các DNNVV của HSBC được Công ty Acorn Marketing and Research Consultance tiến hành trên 501 DNNVV của Việt Nam vào quý I năm 2007. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu quan điểm của các DNNVV về triển vọng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên cuộc nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở mức là khảo sát quan điểm của các doanh nghiệp về triển vọng kinh tế, triển vọng đầu tư và triển vọng thương mại tại Việt Nam.
15 z Hội thảo quốc tế về DNNVV cũng có đề cập rất nhiều yếu tố đang còn bất cập và hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay của quá trình đổi mới và chính sách mở cửa, DNNVV Việt Nam đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, chiếm 19% lực lượng lao động và 27% tổng doanh thu xuất khẩu. Tuy nhiên, so với chỉ số cạnh tranh phát triển các DNNVV trong khu vực, chỉ số của chúng ta còn rất thấp, các doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn non trẻ, yếu kém về mặt quản lí và vốn đầu tư và dễ thất bại về mặt cạnh tranh, và chỉ đang ở điểm xuất phát. Các doanh nghiệp hiện nay còn quá chú trọng đến số lượng mà quên đi chất lượng.
Cần tập trung vào chất lượng để tạo ra thương hiệu uy tín trên thế giới. Cần phải học tập các bí quyết và rút ra các bài học từ kinh nghiệm của các DNNVV Nhật Bản là điều thiết thực cho Việt Nam. Tuy nhiên các học giả cũng khuyến cáo rằng tuỳ theo bối cảnh của từng nước, chúng ta phải vận dụng các bài học và kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn Việt Nam một cách thích hợp, không nên áp dụng một cách rập khuôn. Ngoài ra, các học giả đề xuất Chính phủ phải có biện pháp cho vay để hỗ trợ các DNNVV, đặc biệt các doanh nghiệp ít vốn hoặc đang lâm vào tình trạng khó khăn về mặt tài chính, không nên chỉ cho các doanh nghiệp lớn và đang phát triển mạnh vay vốn.
Hội thảo “Các chiến lược về quyền Sở hữu trí tuệ dành cho DNNVV Việt Nam” (Diễn ra tại Hà Nội vào ngày 8/10/2009, do Trung ương Hội doanh nhân trẻ (DNT) Việt Nam đã tổ chức) Quyền sở hữu trí tuệ là một yếu tố quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và là công cụ đắc lực phục vụ cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Tài sản trí tuệ của doanh nghiệp có vị trí không nhỏ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi vấn đề này được chú trọng và khai thác một cách tối ưu sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao vị thế, uy tín và khả năng cạnh tranh. Tại buổi hội thảo, các chuyên gia đã trao đổi, tư vấn và trả lời các câu hỏi cho các doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến thương hiệu, bí quyết thương mại, quyền sở hữu trí tuệ và việc quản lý sở hữu trí tuệ đối với doanh nghiệp.
16 z Các ý kiến trao đổi tại hội thảo đã tập trung vào các vấn đề trọng tâm liên quan đến quyền sử hữu trí tuệ - vấn đề đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình hình thành một nền kinh tế toàn diện và phát triển bền vững. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các DNNVV, các chuyên gia cũng đã trao đổi và đưa ra những lời khuyên hữu ích cho doanh nghiệp khi muốn nghiên cứu, phát triển một loại sản phẩm hoặc dịch vụ mới cũng như việc xây dựng chiến lược bảo vệ quyền sở hữu thương hiệu và nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp. Hiện các DNNVV tại Việt Nam đang đối mặt với khó khăn như khó tiếp cận với công nghệ mới, khó tiếp cận nguồn tín dụng để đầu tư vào công nghệ cũng như các công cụ, diễn đàn để trao đổi, chia sẻ cộng nghệ với đối tác.