CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI TẠI XÃ AN PHƯỚC, HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG 1. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu1 1. Lịch sử Xã An Phước được thành lập khoảng năm 1940 – 1941, buổi đầu xã thuộc Quận Chợ Lách. Năm 1946, do địa bàn chia cắt không thuận lợi cho quản lý nên Tỉnh Ủy Vĩnh Long đã nhập xã An Phước vào huyện Châu Thành.
Năm 1955, Tỉnh Ủy lập huyện Cái Nhum (địa bàn huyện Mang Thít ngày nay) gồm 7 xã trong đó có xã An Phước. Tháng 2 năm 1976, hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh được nhập lại thành tỉnh Cửu Long và huyện Cái Nhum thuộc địa bàn tỉnh này. Đến tháng 3 năm 1977, huyện Cái Nhum cùng với huyện Châu Thành Tây (trừ 2 xã Tân Ngải, Tân Hòa) và xã Hậu Lộc của huyện Tam Bình hợp nhất thành một huyện lấy tên là Long Hồ thuộc tỉnh Cửu Long. Tháng 9 năm 1981, huyện Mang Thít được thành lập (tách ra từ huyện Long Hồ), trong đó có địa giới xã An Phước.
Năm 1986, Mang Thít lần nữa bị nhập vào huyện Long Hồ và đến ngày 19/2/1992, huyện Mang Thít mới được tái lập trở lại. Tháng 8 năm 1994, xã An Phước được tách thành 2 xã: An Phước và Chánh An, và giữ nguyên như vậy cho đến nay. Xã An Phước ngày nay gồm 12 ấp: Phú Hoà, Hoà Phú, Phước Thuỷ, Phước An, Phú An, Phú Hội, Phú Bình, Định Thới B, Định Thới A, Thuận Thới, Thuỷ Thuận và Thanh Thuỷ, trong đó Thanh Thủy là trung tâm của xã. Điều kiện tự nhiên Về vị trí địa lý, xã An Phước nằm cặp theo tỉnh lộ 902, dọc theo sông Cổ Chiên.
Diện tích tự nhiên của xã là 2. Xã nằm cách thị trấn Cái Nhum 4km về hướng Đông Bắc và cách Thành phố Vĩnh Long 19km về hướng Tây. Xã An Phước giáp tỉnh Bến Tre ở phía Đông Bắc, giáp xã Chánh An, Chánh Hội ở 1 Nguồn: Trang thông tin xã An Phước: www. Ngày tải về:30/12/2009.
- 14 - phía Nam và giáp xã Mỹ Phước, Nhơn Phú ở phía Tây. Xã An Phước có tỉnh lộ 902 (con đường từ thành phố Vĩnh Long qua trung tâm các xã: Mỹ An, Mỹ Phước, An Phước, Chánh An) đi ngang qua, lại nằm dọc sông Cổ Chiên nên thuận tiện giao thông cả đường thủy lẫn đường bộ. Địa hình ở đây tương đối bằng phẳng, trong đó 22,38% diện tích cao từ 0,6 đến 1m; 70,89% cao từ 1 đến 1,4m; số còn lại là cao trên 1,4m. Xã chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm, lượng mưa dồi dào và phân bố theo mùa, bình quân là 1.
Nhiệt độ trung bình 23 OC và độ ẩm không khí trung bình hàng năm thường ở mức 80%. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp và trên thực tế, An Phước vẫn là một xã nông nghiệp dù mức độ tập trung công nghiệp thuộc loại cao của huyện Mang Thít.3 Tình hình kinh tế - dân cư Về kinh tế: An Phước là một xã nông nghiệp nhưng cơ cấu kinh tế đang có bước chuyển dịch mạnh theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp và tăng dần tỉ trọng thủ công nghiệp, dịch vụ - thương mại. Trong cơ cấu tổng sản phẩm (GDP) của xã năm 2001 – 2005, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 40,87%; công nghiệp chiếm 37,7%; còn lại là thương mại – dịch vụ. Tốc độ phát triển bình quân hàng năm của ngành nông nghiệp đạt 12,4%.
Trong nội bộ cơ cấu ngành nông nghiệp, trồng trọt chiếm 76,83%. Diện tích trồng lúa là 623 ha với năng suất bình quân 4,37 tấn/ha/năm. Bình quân lương thực đầu người là 632,5 kg/người/năm. Diện tích vườn trồng cây ăn trái là 752 ha, trong đó vườn có hiệu quả kinh tế cao chiếm đến 636 ha, khoảng 84,6% diện tích vườn của cả xã.
Các loại cây được trồng nhiều nhất ở đây là bưởi với diện tích là 195 ha, sầu riêng 156 ha và nhãn xuồng 180 ha. Diện tích cây màu khá ít, khoảng 7 ha và được trồng rải rác ở các ấp, gồm các loại cây như dưa hấu, dưa leo, đậu nành, hành lá,… Chăn nuôi chiếm 14,29% trong cơ cấu ngành nông nghiệp và chủ yếu theo phương thức hộ gia đình. Lượng gia cầm được nuôi không đáng kể (do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm). Trong khi đó, năm 2005, tổng đàn gia súc của xã - 15 - khoảng 4.300 con, đàn heo thời điểm này là 3.850 con, chiếm đến hơn 90% số lượng gia súc của xã, còn lại không đến 10% là bò và dê.
Thủy sản chiếm 8,88% trong cơ cấu nông nghiệp của xã. Tuy diện tích nuôi thủy sản (các loại cá da trơn) khá khiêm tốn, chỉ khoảng 6,8 ha nhưng sản lượng thu hoạch bình quân trên diện tích lại khá cao, đạt 12. Do có tiềm năng đất sét dồi dào nên công nghiệp ở An Phước chủ yếu là sản xuất gạch ngói. Năm 2001, các doanh nghiệp ở đây bắt đầu sản xuất thêm gốm mỹ nghệ, phục vụ nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, hiện trên địa bàn xã có 16 cơ sở gốm mỹ nghệ xuất khẩu.
Tổng giá trị ngành tiểu thủ công nghiệp bình quân hàng năm tăng 13,4% và là ngành mũi nhọn trong công cuộc chuyển đổi cơ cấu ngành của xã. Thương mại – dịch vụ chỉ chiếm 21,43% trong cơ cấu kinh tế xã, chủ yếu là thương mại – dịch vụ nông thôn và vẫn đang trong quá trình đầu tư, cụ thể là xây dựng trung tâm hành chính thương mại của xã, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp, vận tải, giải trí và tiêu dùng. Về dân cư: Năm 2005, toàn xã có 2.199 hộ dân với 11.998 nhân khẩu, trong đó số người trong tuổi lao động là 5. Tốc độ tăng dân số bình quân 1,28%.
Dân cư tập trung đông nhất ở ấp Thủy Thuận với 288 hộ, 1.208 nhân khẩu và tập trung thấp nhất ở ấp Thuận Thới, chỉ có 87 hộ với 430 nhân khẩu. Đa số người dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, chiếm khoảng 95,6% tổng số hộ, số hộ phi nông nghiệp chỉ nằm ở con số khiêm tốn là 96 hộ. Ở xã An Phước, tộc người Kinh chiếm đa số. Phần lớn người dân theo đạo Phật hoặc thờ cúng ông bà, một số ít theo Công giáo, chủ yếu tập trung ở ấp Thủy Thuận.
Số hộ nghèo thống kê năm 2005 được là 280 hộ. Xã An Phước có 2.018 hộ có điện thắp sáng, số còn lại 106 hộ chưa có điện chủ yếu là do các hộ định cư ngoài bán kính phủ điện. Vấn đề nước sạch tại địa phương này còn có nhiều vấn đề phải quan tâm, toàn xã hiện có 1.720 hộ sử dụng nước qua lắng lọc, tương đương 77% tổng số hộ của xã; khoảng 402 hộ vẫn còn - 16 - sử dụng nước mưa; số hộ sử dụng nước máy chỉ vỏn vẹn có 110 hộ, tức chỉ chiếm 5% tổng số hộ của xã. Tuy nhiên, cũng theo thống kê năm 2005, 100% hộ dân xã An Phước có thiết bị nghe nhìn.
Giới thiệu hoạt động chăn nuôi heo tại địa bàn nghiên cứu 1. Vị trí của hoạt động chăn nuôi heo trong đời sống người dân Tình hình kinh tế xã An Phước năm 2005 cho thấy mức đóng góp của ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm của địa phương khá thấp, khoảng 41% và chỉ hơn mức đóng góp sản phẩm của ngành công nghiệp khoảng 3%. Hiện tượng sản phẩm nông nghiệp đang dần mất vai trò chủ đạo trong tổng sản phẩm của xã giúp ta có thể hình dung được xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ ở đây. Nhưng điều này không đồng nghĩa với sự mất dần vị thế của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế địa phương.
Khi xem xét tình hình dân cư, điều dễ dàng nhận thấy là sự nghịch lý trong cơ cấu kinh tế của xã. Số người hoạt động nông nghiệp năm 2005, chiếm đến hơn 95% tổng số hộ chỉ đóng góp 2/5 tổng sản phẩm của địa phương. Trong khi đó, 3/5 tổng sản phẩm của xã lại do một số ít, chưa đến 5%, các hộ phi nông nghiệp làm ra. Với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, sự nghịch lý này về lâu dài sẽ là bài toán xã hội về vấn đề tạo thu nhập ổn định cuộc sống của người dân.
Bởi vì vai trò nông nghiệp ở xã An Phước dù mờ nhạt trong những thống kê về hiệu quả kinh tế nhưng lại vô cùng quan trọng trong vấn đề việc làm và thu nhập của dân cư nói chung. Khi bàn về nông nghiệp, ta không thể không đề cập đến hoạt động chăn nuôi như một lĩnh vực cố hữu trong nội bộ cơ cấu ngành nông nghiệp. Chủng loại vật nuôi tại xã An Phước khá phong phú, bao gồm các loại gia cầm, gia súc và thủy sản. Trong đó, heo là vật nuôi có số lượng nhiều nhất, chiếm hơn 90% tổng đàn gia súc của xã.
Tuy không có con số chính xác về số hộ nuôi heo nhưng mối tương quan giữa số lượng heo được nuôi (3.850 con) và số hộ nông nghiệp (2.100 hộ) của xã cũng thể hiện phần nào chân dung cộng đồng người chăn nuôi heo ở đây. Các cuộc quan sát tại An Phước cho thấy rằng, hầu hết người nuôi heo đều - 17 - có vườn trồng cây ăn trái nhưng chỉ để phục vụ gia đình, một số ít làm ruộng, buôn bán hoặc là công chức nhà nước. Tất cả các hộ nuôi heo nhằm mục đích để kinh doanh chứ không để dùng trong nhà. Như vậy, nuôi heo là lĩnh vực chủ chốt trong ngành chăn nuôi của địa phương.
Vai trò của hoạt động chăn nuôi heo đối với các hộ dân dao động từ vị trí là nguồn thu nhập song song với các nguồn thu nhập khác như trồng trọt, buôn bán, lương bổng đến vị trí là nguồn thu nhập chính của gia đình. Hoạt động chăn nuôi heo tại địa phương Chăn nuôi heo ở xã An Phước chủ yếu theo phương thức hộ gia đình. Dựa vào quy mô có thể chia hoạt động chăn nuôi heo ở đây thành hai loại phổ biến: chăn nuôi heo cá thể nhỏ lẻ và chăn nuôi heo tập trung (bán công nghiệp). a/ Chăn nuôi heo cá thể nhỏ lẻ Chăn nuôi heo cá thể nhỏ lẻ là mô hình phổ biến và truyền thống ở xã An Phước.
Hộ nuôi cá thể thường nuôi từ 1 đến 3 heo nái, 5 đến 10 heo thịt. Tùy theo mục đích kinh doanh của từng hộ mà tỉ lệ heo nái và heo thịt có khác nhau.