CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận Tiến trình phát triển lịch sử văn hóa Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu hệ thống theo những cách khác nhau. Trước tiên, Đặng Thái Hoàng & Nguyễn Văn Đỉnh (chủ biên) (2012) cho rằng văn hóa Việt Nam được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn sơ khai văn hóa, giai đoạn hình thành văn hóa truyền thống và giai đoạn chuyển từ truyền thống sang hiện đại. Theo các tác giả này đây cũng là giai đoạn mang tính bước ngoặt bởi sự xuất hiện của nền văn minh phương Tây, giai đoạn xuất hiện giá trị đối lập lại với văn minh truyền thống như sự đề cao văn minh vật chất, đề cao khoa học kỹ thuật, đề cao giá trị và ý thức cá nhân, vượt khỏi khung kìm hãm của mối quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội truyền thống.
Nghiên cứu cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm (1997) phân kỳ lịch sử văn hóa Việt Nam thành ba lớp văn hóa chính: thứ nhất là lớp văn hóa bản địa, thứ hai là lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực và thứ ba là lớp văn hóa giao lưu với phương Tây. Trong lớp giao lưu tiếp xúc với văn hóa phương Tây, được chia tiếp làm hai giai đoạn chính đó là: giai đoạn một từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX, giao tiếp tự nguyện thông qua việc truyền giáo, buôn bán và giai đoạn hai từ năm 1862 đến năm 1945, giao tiếp cưỡng bức và tự nguyện thông qua cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa và nô dịch văn hóa (tr. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc (2018), cũng chia lịch sử văn hóa Việt Nam làm ba giai đoạn. Lần thứ nhất, văn hóa Việt Nam theo hẳn Nho giáo trong giai đoạn ngàn năm Bắc thuộc; lần thứ hai, văn hóa Việt Nam tiếp xúc với văn hóa Pháp; lần thứ ba, văn hóa Việt Nam theo chủ nghĩa xã hội.
Tác giả cho rằng cả ba lần tiếp xúc văn hóa ngoại sinh, văn hóa Việt Nam đã có sự thay đổi. Đó là “tháo gỡ cấu trúc cũ, cấu trúc hóa lại theo kiểu mới” (Phan Ngọc, 2018, tr. Chính sự tái cấu trúc này đã làm cho văn hóa Việt Nam không bị đồng hóa mà còn tiếp thu có chọn lọc làm phong phú cho nền văn hóa bản địa. 13 Theo Trần Quốc Vượng (2013) nhận xét diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam chia thành năm thời kỳ: Văn hóa Việt Nam thời tiền sử và sơ sử; Văn hóa Việt Nam thiên niên kỷ đầu công nguyên; Văn hóa Việt Nam thời tự chủ; Văn hóa Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945 và Văn hóa Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
Ông còn cho rằng, giai đoạn từ năm 1858 - 1945 có hai đặc trưng văn hóa lớn: tiếp xúc cưỡng bức và giao thoa văn hóa Việt - Pháp và giao lưu văn hóa tự nhiên Việt Nam với thế giới phương Tây.119) Thông qua các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả nêu trên đều nhấn mạnh đến sự xuất hiện của người Pháp thông qua chính sách cai trị, giao lưu văn hóa phương Tây đã có ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa Việt Nam. Nhìn lại lịch sử Việt Nam, quá trình tiếp xúc với phương Tây có thể kể đến các mối quan hệ với người Bồ Đào Nha, người Hà Lan, người Anh, rồi đến người Pháp; trong đó sự giao lưu tiếp xúc, tiếp biến văn hóa Pháp đã diễn ra mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất, chi phối lên hầu khắp các lĩnh vực văn hóa, tôn giáo, giáo dục, khoa học, kiến trúc, nghệ thuật, xã hội và đời sống của người Việt. Khái niệm văn hóa Văn hóa bắt nguồn từ chữ Latinh: Cultus, nghĩa là “gieo trồng”, Cultus Agri là “gieo trồng ruộng đất”, Cultus Animi là “gieo trồng tinh thần”, tức là “sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người”. Nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679) đã phân định rõ: “Lao động dành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần.
Ngày nay, văn hóa là một khái niệm được sử dụng rộng khắp ở tất cả các lĩnh vực như: văn hóa kinh doanh, văn hóa giới, văn hóa ẩm thực, văn hóa đô thị. bởi văn hóa muôn màu muôn vẻ với nhiều cách hiểu khác nhau, từ bình dân đến hàn lâm. Do vậy mà đã có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa đều phản ảnh một góc nhìn, quan điểm, nhận định khác nhau của các học giả, nhà nghiên cứu. Từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde 14 Kluckhohn đã thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa ( Wikipedia ).
Có thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu sau: Trước tiên, định nghĩa mang tính miêu tả của nhà nhân học người Anh E. Tylor (2018) trong cuốn Văn hóa Nguyên thủy: “Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” (tr. Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia có một định nghĩa khác cũng của nhà nhân học, ngôn ngữ học Anh, Edward Sapir ( 1884-1939 ): “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”. Ở góc nhìn khác, nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, nhà xã hội học Mỹ William Issac Thomas (1863-1947): “Văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng, cư xử).” (như trích dẫn của Phạm Thái Việt và Đào Ngọc Tuấn, 2004, tr.11) Định nghĩa văn hóa của hai nhà từ điển học Trung Quốc Wang Jian Rui và Di Xue Jin: “.
Ngày nay, chúng ta có thể định nghĩa văn hóa như tập hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển xã hội. Nó đặc biệt cho thấy các giá trị tinh thần bao gồm: văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, khoa học. Năm 2002, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. UNESCO còn khẳng định: “.
văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc kia”. Với định nghĩa của UNESCO, thì văn hóa chính là sáng 15 tạo của con người với những giá trị vật thể, phi vật thể làm nên bản sắc của một dân tộc, một cộng đồng người, một quốc gia. Trần Ngọc Thêm (1997) cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Trên cơ sở bốn đặc trưng về văn hóa, bao gồm tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử, ông đã đưa ra định nghĩa về văn hóa được bổ sung, hoàn thiện như sau: “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.
(Trần Ngọc Thêm, 2014, tr.56) Xét về khía cạnh kiến trúc, theo Nguyễn Thế Cường “Kiến trúc và các thuộc tính văn hóa” nhận xét rằng: “kiến trúc là một dạng tổ hợp đặc biệt của văn hóa”. Mọi vật thể do con người sáng tạo đều là vật phẩm văn hóa nếu nó mang đầy đủ ba yếu tố: vật lý, xã hội và tinh thần. Các công trình kiến trúc không những mang giá trị văn hóa vật chất mà còn thể hiện ở văn hóa tinh thần, vì văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần đều là những sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu của bản thân con người như: đồ ăn, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt, tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, lễ hội, phong tục. Vì vậy, trong lĩnh vực văn hóa và lĩnh vực kiến trúc mặc dù là hai chuyên ngành nghiên cứu riêng biệt nhưng khi nghiên cứu về mặt kiến trúc chúng ta không thể tách rời kiến trúc với văn hóa.
Từ những khái niệm trên cho thấy có rất nhiều yếu tố cấu thành nên văn hóa; trong đó kiến trúc là một biểu hiện vật chất được phản ánh thông qua tư tưởng của con người đối với thế giới tự nhiên và hiển nhiên nó mang những giá trị tồn tại với thời gian. Khi tìm hiểu các định nghĩa về văn hóa, tùy thuộc hướng tiếp cận, góc độ, mỗi tác giả sẽ đưa ra những định nghĩa khác nhau, do đó theo hướng nghiên cứu 16 của đề tài chúng tôi chọn định nghĩa của Trần Ngọc Thêm để định hướng cho việc nghiên cứu đối với các công trình kiến trúc Pháp tại thành phố Cần Thơ. Khái niệm tiếp xúc văn hóa và tiếp biến văn hóa Nằm giữa hai nền văn minh lớn của phương Đông,Việt Nam đã có thời gian dài rất sớm giao lưu tiếp xúc với văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ. Gần mười thế kỷ chịu tác động mạnh mẽ của văn minh Trung Hoa với chiến lược cưỡng bức, áp đặt, đồng hóa bằng con đường hôn nhân và tư tưởng Nho giáo vào hệ thống chính trị Việt Nam đã làm cho văn hóa Việt Nam có những biến chuyển sâu sắc.
Điều này được minh chứng bằng việc các vua chúa phong kiến đã sử dụng Nho giáo như một công cụ để củng cố quyền lực, xác lập tôn ti, trật tự trong xã hội phục vụ cho triều đại phong kiến, ngay cả việc hạ thấp vai trò, vị trí trong gia đình lẫn ngoài xã hội của người phụ nữ. Trong lịch sử Việt Nam chế độ mẫu hệ, mẫu quyền đã từng tồn tại trong một thời gian dài, vai trò của người phụ nữ được đề cao trong hình thái xã hội cộng sản cũng như hình thái kinh tế nông nghiệp, phụ nữ có vai trò là người nắm giữ kinh tế của gia đình, do đó người phụ nữ rất được xem trọng.