Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Lai Châu là địa bàn biên giới trọng yếu vùng Tây Bắc với diện tích tự nhiên đạt trên 9.068 km² (xếp thứ 10 trong số 63 tỉnh, thành phố cả nước), đồng thời là nơi hội tụ bản sắc văn hóa phong phú của 20 dân tộc anh em. Trong giai đoạn 2018 - 2020, xu hướng trải nghiệm văn hóa bản địa gắn với cảnh quan sinh thái nguyên sơ đã mở ra tiềm năng kinh tế to lớn cho cộng đồng địa phương. Dù vậy, hoạt động du lịch cộng đồng tại các thôn bản vùng cao vẫn chủ yếu diễn ra tự phát, quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ và chịu sức ép lớn về hạ tầng cũng như nguồn lực tài chính. Do khoảng cách từ các bản du lịch đến trung tâm huyện thường dao động từ 30 km đến hơn 50 km với địa hình chia cắt, việc tiếp cận mạng lưới ngân hàng truyền thống gặp rất nhiều trở ngại.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Hoàng Thị Ngọc Hường giải quyết bài toán cấp thiết: Phân tích thực trạng và nhận diện các rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ ngân hàng số của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số kinh doanh du lịch cộng đồng tại tỉnh Lai Châu, từ đó kiến tạo hệ thống giải pháp đòn bẩy nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Không gian nghiên cứu tập trung vào hai điểm đến tiêu biểu là bản Sì Thâu Chải thuộc xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường (nơi cư trú của người Dao) và bản Sin Suối Hồ thuộc xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ (địa bàn sinh sống của người H'Mông). Phạm vi dữ liệu thứ cấp bao quát giai đoạn 2018 - 2020 kết hợp điều tra khảo sát thực địa sơ cấp năm 2021. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện, hướng tới mục tiêu gia tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt từ mức dưới 15% hiện tại lên trên 60% trong hoạt động du lịch, tạo sinh kế ổn định cho hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên sự giao thoa giữa hai nền tảng lý luận chính. Thứ nhất là lý thuyết Du lịch dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT) theo quan điểm của Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009), kết hợp quy định pháp lý tại Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch số 09/2017/QH14, xác định cộng đồng bản địa vừa là chủ thể quản lý, bảo tồn văn hóa - tài nguyên, vừa là đối tượng thụ hưởng trực tiếp lợi ích kinh tế. Thứ hai là lý thuyết Tài chính toàn diện và khung phát triển Ngân hàng số (Digital Banking) theo tinh thần Quyết định số 986/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Mô hình nghiên cứu chuẩn hóa bốn khái niệm nền tảng: Du lịch cộng đồng bền vững (phát triển hài hòa giữa kinh tế, bảo tồn văn hóa và môi trường sinh thái); Ngân hàng số (số hóa 100% quy trình giao dịch trên nền tảng kết nối mạng, xóa bỏ rào cản không gian và thời gian); Dịch vụ tài chính số vi mô (bao gồm chuyển khoản 24/7, quét mã QR, tiết kiệm online và tín dụng trực tuyến); Khả năng tiếp cận dịch vụ số (được đo lường qua quyền sở hữu tài khoản, tần suất thao tác và mức độ thành thạo công nghệ của chủ hộ).

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2018 - 2020 được thu thập từ báo cáo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lai Châu, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và UBND các xã khảo sát. Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra thực địa trong năm 2021 với cỡ mẫu nghiên cứu gồm 120 hộ gia đình dân tộc thiểu số đang trực tiếp kinh doanh dịch vụ homestay, ăn uống và trải nghiệm du lịch (trong đó gồm 65 hộ người Dao tại bản Sì Thâu Chải và 55 hộ người H'Mông tại bản Sin Suối Hồ).

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) kết hợp phỏng vấn sâu đại diện ban quản lý bản, lãnh đạo ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp lữ hành. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả (descriptive statistics) kết hợp phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm (%). Việc lựa chọn các phương pháp này xuất phát từ lý do cần lượng hóa cụ thể mức độ phổ cập của từng ứng dụng tài chính số, đồng thời so sánh tường minh sự khác biệt về doanh thu, chi phí giao dịch giữa nhóm hộ ứng dụng công nghệ và nhóm thuần túy giao dịch truyền thống trong điều kiện văn hóa vùng cao đặc thù.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu khảo sát thực tế năm 2021 ghi nhận bốn phát hiện cốt lõi về thực trạng tài chính số của các hộ làm du lịch:

Thứ nhất, tồn tại sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ sở hữu phương tiện công nghệ và tỷ lệ kích hoạt dịch vụ ngân hàng số. Khoảng 76,7% số hộ khảo sát có sở hữu ít nhất một điện thoại thông minh kết nối mạng di động 3G/4G, tuy nhiên chỉ có 31,7% chủ hộ thực tế cài đặt và vận hành ứng dụng Mobile Banking.

Thứ hai, phương thức thanh toán tiền mặt vẫn chi phối tuyệt đối chuỗi cung ứng dịch vụ bản địa. Trong cơ cấu chi trả của du khách tại hai bản, tiền mặt chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 72,5%, giao dịch chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng chiếm 19,2%, trong khi hình thức quét mã QR Code chỉ chiếm vỏn vẹn 8,3% tổng số lượt thanh toán.

Thứ ba, khoảng trống rất lớn trong cung ứng vốn tín dụng trực tuyến. Có tới 68,3% số hộ có nhu cầu vay vốn để nâng cấp công trình homestay và mua sắm tiện nghi với mức vốn cần thiết từ 80 đến 150 triệu đồng/hộ. Dù vậy, chỉ 34,2% số hộ tiếp cận được nguồn vốn truyền thống thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Agribank chi nhánh huyện, trong khi tỷ lệ tiếp cận các gói tín dụng trực tuyến qua ứng dụng ngân hàng số ghi nhận ở mức 0%.

Thứ tư, hiệu quả kinh tế rõ rệt của việc số hóa dòng tiền. Những hộ gia đình chủ động sử dụng tài khoản ngân hàng để nhận tiền cọc giữ phòng và thanh toán từ xa đạt mức doanh thu bình quân khoảng 18,5 triệu đồng/tháng, cao hơn 26,7% so với nhóm hộ hoàn toàn phụ thuộc vào việc thu tiền mặt trực tiếp tại bản (đạt mức bình quân 14,6 triệu đồng/tháng).

Thảo luận kết quả

Thực tế nghiên cứu cho thấy sự đứt gãy trong tiếp cận ngân hàng số bắt nguồn từ ba rào cản chính. Về phía hộ kinh doanh, rào cản ngôn ngữ và trình độ công nghệ hạn chế tạo tâm lý lo sợ mất tiền khi thực hiện giao dịch online. Về phía ngân hàng, các quy trình mở gói tín dụng vẫn nặng về xác minh tài sản bảo đảm truyền thống, chưa tích hợp chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền số. Về phía địa phương, hạ tầng viễn thông tại các sườn núi cao đôi lúc thiếu ổn định trong mùa mưa lũ.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, bài học từ mô hình Vườn quốc gia Gunung Halimun (Indonesia) cho thấy việc các tổ chức hỗ trợ cộng đồng mở tài khoản ngân hàng dùng chung đã giúp quản lý minh bạch 88,8% doanh thu từ du khách, đồng thời phân bổ trực tiếp 30% quỹ lương cho đồng bào bản địa. Tương tự, tại làng Ghandruk (Nepal), việc đào tạo kỹ năng quản lý dịch vụ lưu trú đã giúp 95% hộ nhà nghỉ duy trì hoạt động kinh doanh bền vững. Dữ liệu thực chứng của luận văn có thể được trình bày hiệu quả qua biểu đồ hình tròn phản ánh tỷ trọng tiền mặt (72,5%) đối lập với thanh toán số (27,5%), kết hợp bảng ma trận đối sánh chéo giữa trình độ học vấn chủ hộ và tần suất sử dụng Mobile Banking, làm sáng tỏ mối liên hệ tỷ lệ thuận giữa năng lực số và doanh thu du lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và phát huy vai trò đòn bẩy của ngân hàng số trong phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại Lai Châu, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất:

Một là, phổ cập hạ tầng thanh toán số và cấp mã VietQR đồng bộ. Cơ quan viễn thông phối hợp cùng các ngân hàng thương mại triển khai lắp đặt trạm phát sóng bổ sung và cấp phát bảng mã QR Code gắn kèm tài khoản thanh toán cho 100% cơ sở homestay, nhà hàng và quầy lưu niệm bản địa. Mục tiêu nâng tỷ trọng giao dịch không tiền mặt đạt mốc 50% trong toàn bộ các giao dịch du lịch. Thời gian thực hiện từ quý I/2024 đến hết quý IV/2025 do UBND các huyện Tam Đường, Phong Thổ phối hợp Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh Lai Châu chỉ đạo.

Hai là, thiết kế sản phẩm tín dụng số vi mô không cần tài sản thế chấp. Các ngân hàng thương mại chủ lực, đặc biệt là Agribank và Ngân hàng Chính sách xã hội, cần xây dựng gói vay phục vụ du lịch sinh thái hạn mức từ 30 đến 100 triệu đồng với quy trình xét duyệt online dựa trên dòng tiền giao dịch mã QR của homestay, giải ngân trong vòng 24 giờ. Mục tiêu cung ứng vốn cho ít nhất 70 hộ kinh doanh du lịch. Thời gian triển khai từ quý III/2024 đến năm 2026.

Ba là, tổ chức chiến dịch tập huấn kỹ năng số "cầm tay chỉ việc" đa ngôn ngữ. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lai Châu chủ trì phối hợp với Đoàn Thanh niên tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng mở ví điện tử, quản trị mật khẩu và phòng chống lừa đảo trực tuyến bằng tiếng H'Mông và tiếng Dao. Mục tiêu 100% chủ hộ kinh doanh hoàn thành khóa đào tạo thực hành. Thời gian thực hiện định kỳ 2 đợt mỗi năm trong giai đoạn 2024 - 2025.

Bốn là, thành lập quỹ phát triển du lịch cộng đồng số hóa. Ban Quản lý bản Sì Thâu Chải và Sin Suối Hồ đứng tên mở tài khoản ngân hàng số công khai, tự động trích lập từ 5% đến 10% doanh thu lưu trú hàng tháng để tài trợ tái thiết hạ tầng giao thông, vệ sinh môi trường và tổ chức lễ hội truyền thống. Mục tiêu số hóa 100% nguồn thu đóng góp cộng đồng từ quý II/2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông cùng UBND các huyện vùng cao có căn cứ thực nghiệm để xây dựng đề án chuyển đổi số du lịch nông thôn, xây dựng tiêu chí "bản du lịch thông minh" giai đoạn 2025 - 2030.

Thứ hai, các ngân hàng thương mại và công ty công nghệ tài chính (Fintech): Cung cấp số liệu khảo sát chân thực về thói quen tài chính của đồng bào dân tộc thiểu số, làm tiền đề nghiên cứu giao diện người dùng đơn giản hóa, tích hợp giọng nói bản địa cho hơn 14 triệu người dân tộc thiểu số trên toàn quốc.

Thứ ba, các hợp tác xã và hộ kinh doanh du lịch cộng đồng: Nắm bắt phương pháp quản trị dòng tiền online, tận dụng lịch sử thanh toán không dùng tiền mặt để nâng cao uy tín tín dụng cá nhân, từ đó tiếp cận nguồn vốn ưu đãi mở rộng kinh doanh và tăng trưởng doanh thu tối thiểu 25%.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý kinh tế, Du lịch học: Đóng vai trò như một case study điển hình, liên ngành giữa số hóa dịch vụ ngân hàng và phát triển du lịch sinh thái bền vững tại khu vực miền núi phía Bắc với chuỗi dữ liệu khảo sát 120 hộ thực nghiệm độc đáo.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch cộng đồng bền vững tại Lai Châu có đặc thù nào nổi bật? Du lịch Lai Châu dựa trên không gian sinh thái vùng cao biên giới và nền văn hóa nguyên bản của 20 dân tộc, tiêu biểu là người Dao tại Sì Thâu Chải và người H'Mông tại Sin Suối Hồ. Phát triển bền vững tại đây đòi hỏi giữ gìn kiến trúc nhà trình tường, trang phục thổ cẩm và bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo đảm lợi ích kinh tế chia sẻ trực tiếp cho hơn 80% cư dân bản địa.

Dịch vụ ngân hàng số mang lại lợi thế cạnh tranh gì cho hộ làm du lịch? Ngân hàng số xóa nhòa khoảng cách di chuyển từ 30 đến 50 km đèo dốc từ bản ra trung tâm huyện. Dịch vụ cho phép nhận tiền đặt cọc phòng tức thì từ du khách thập phương, loại bỏ hoàn toàn nguy cơ tiền giả, rủi ro cất trữ tiền mặt và giúp doanh thu trung bình của hộ kinh doanh tăng thêm 26,7% so với chỉ dùng tiền mặt.

Rào cản lớn nhất khi đưa ngân hàng số đến bản vùng cao là gì? Rào cản lớn nhất nằm ở kỹ năng thao tác công nghệ số và tâm lý lo ngại mất an toàn thông tin. Dù 76,7% hộ sở hữu điện thoại thông minh, nhưng tỷ lệ sử dụng app ngân hàng chỉ đạt 31,7% do giao diện ứng dụng hoàn toàn bằng tiếng phổ thông với nhiều thuật ngữ kỹ thuật phức tạp, thiếu tính năng hỗ trợ song ngữ bản địa cho đồng bào.

Hộ kinh doanh không có tài sản bảo đảm thế chấp có thể vay vốn tín dụng số bằng cách nào? Các tổ chức tài chính có thể triển khai giải pháp chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền điện tử phát sinh qua mã VietQR của hộ homestay. Khi hộ duy trì doanh thu trực tuyến ổn định từ 15 đến 20 triệu đồng mỗi tháng, hệ thống tự động xét duyệt hạn mức thấu chi tín chấp từ 30 đến 50 triệu đồng trực tiếp trên app di động mà không cần thế chấp sổ đỏ.

Kinh nghiệm quốc tế nào từ Indonesia và Nepal có thể ứng dụng ngay tại Lai Châu? Bài học cốt lõi từ Vườn quốc gia Gunung Halimun (Indonesia) và Annapurna (Nepal) là thành lập tài khoản ngân hàng số tập thể cho ban quản lý du lịch bản. Nguồn thu từ dịch vụ được tự động trích từ 5% đến 15% vào tài khoản quỹ chung nhằm chi trả công bằng cho đội vệ sinh, đội văn nghệ dân gian và tu bổ đường sá một cách công khai, minh bạch.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về mối quan hệ cộng hưởng giữa ngân hàng số và du lịch cộng đồng bền vững tại vùng đồng bào thiểu số.
  • Công trình cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc thông qua điều tra 120 hộ dân tộc Dao và H'Mông tại hai huyện Tam Đường và Phong Thổ của tỉnh Lai Châu.
  • Nghiên cứu chỉ rõ khoảng cách số khi tỷ lệ dùng app ngân hàng mới dừng lại ở 31,7% dù tỷ lệ sở hữu điện thoại thông minh đạt tới 76,7%.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn chặt hạ tầng viễn thông, tín dụng số vi mô, đào tạo kỹ năng thực hành và số hóa quỹ bản làng.
  • Khẳng định mô hình chuyển đổi số tài chính là chìa khóa gia tăng hơn 26% doanh thu dịch vụ cho các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là tạo dựng cầu nối thực tiễn giữa chính sách tài chính toàn diện quốc gia với chiến lược phát triển kinh tế du lịch bản địa tại địa bàn biên giới Tây Bắc. Về định hướng tiếp theo, nghiên cứu cần được nhân rộng khảo sát liên tỉnh tại Lào Cai, Hà Giang và Sơn La trong giai đoạn 2025 - 2027 để chuẩn hóa khung chỉ số tài chính số du lịch cộng đồng cấp vùng. Các cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và cộng đồng người dân cần nhanh chóng liên kết hành động, biến công nghệ số thành trợ lực vững chắc giúp nâng cao đời sống đồng bào vùng cao.