Mở đầu. Trình bày lý do hình thành đề tài, sự cần thiết phải nghiên cứu, từ đó đưa ra bảy mục tiêu nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như những ý nghĩa về lý thuyết và thực tiễn của đề tải. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trình bày những khái niệm, những nội dung có tính lý thuyết liên quan đến vấn đề ảnh hưởng của các yếu tô đồng tạo ra trải nghiệm, sự sẵn sàng tham gia của khách hàng và chất lượng tương tác của chủ nhà đến sự hài lòng và hiệu ứng truyền miệng.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bay các phương pháp khoa học được sử dụng dé nghiên cứu và cách thức tiến hành các phương pháp đó. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trình bày nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận văn.
Nội dung của chương nảy nói lên các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện luận văn và phân tích các kết quả đạt được đó thông qua những hiểu biết khi thâm nhập thực tế và việc phân tích các số liệu đã thu thập, tính toán phân tích tong hợp, đánh giá nhận định các van đề nghiên Cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Trình bày các kết quả chính của vấn đề nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị. Ở chương này cũng nêu ra những hạn chê và hướng tiêp theo của đê tài.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LY THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày về các cơ sở lý thuyết, đó là các khái niệm, các quan điểm đã được đưa ra trong các nghiên cứu có trước. Tác giả căn cứ vào các khái niệm này để nêu khái niệm các thang đo sử dụng trong đề tài này. Bên cạnh đó, căn cứ vào những mỗi quan hệ giữa các khái niệm đã được kiểm định trong các nghiên cứu trước đây và thực tế việc sử dụng homestay cua du khách nước ngoài tại Da Lạt, tác giả biện luận để nêu lên giả thuyết và đưa ra mô hình nghiên cứu cho luận văn nảy.1 Khái niệm Homestay Theo định nghĩa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: “Homestay là nơi sinh sống của người sở hữu nhà hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú, có trang thiết bị tiện nghỉ cho khách du lịch thuê lưu trú, có thé có dịch vụ khác theo kha năng đáp ứng của chủ nhà” (Thong tir số 88/2008/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ Văn hóa, Thé thao và Du lịch) Theo Tổng cục Du lịch: “Nha ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay): Nhà ở có khu vực được bồ trí trang thiết bị, tiện nghi cho khách du lịch thuê lưu trú, khách cùng sinh hoạt với gia đình chủ nhà”. Tóm lại, có thé hiểu rang Homestay là hình thức du khách sẽ lưu trú tại nhà của người dân bản địa, cùng ăn uống và tham gia các hoạt động sinh hoạt thường nay của gia đình.
Nói cách khác là đồng tạo sinh trải nghiệm cho họ. Hiện nay, Homestay ở Việt Nam có thể được chia ra thành 2 dạng: Homestay đúng nghĩa: Khách du lịch sẽ đặt phòng trước và ở chung nhà với người dân (chủ nhà). Homestay biến thể: được xây dựng theo kiêu biệt thự lớn hoặc nhà tầng lớn hoặc nhà có diện tích trung bình với nhiều phòng đơn giản. Các chủ Homestay xây dung, phát triên theo các dạng như nhà choi, bungalow mini kê nhà dân, như nha nam, nha container hoặc các choi nhỏ.nhưng khách không ở, sinh hoạt chung với chủ nhà.
Thực chất, đây chỉ là hình thức cung cấp chỗ nghỉ (phòng ngủ/giường ngủ) cho khách; chủ nhà và khách không tương tác nhiều với nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của dé tai này chỉ nghiên cứu về homestay đúng nghĩa. Homestay ở đây có nghĩa là loại hình lưu trú mà khách du lịch là người nước ngoài sẽ lưu trú tại các cơ sở lưu trú hoặc nhà người dân, đồng thời sinh hoạt, ăn uống cùng với chủ cơ sở hoặc chủ nhà, có tiếp xúc, trao đôi với chủ nhà. Tại Đà Lat, homestay dành cho người nước ngoai chủ yếu là phần được xây dựng thêm phục vụ cho việc đón tiếp khách nước ngoài.
Phần lớn là giường tầng để du khách có thể nghỉ ngơi và du khách sẽ sinh hoạt cùng nhau. Việc ăn uống cũng sẽ do chủ nhà đảm nhiệm.2 Khái niệm “Đồng tao sinh trai nghiệm” (Experience co-creation) Bjork & Sfandla (2009) cho răng, trong lĩnh vực du lịch, trải nghiệm (Experience) của khách du lịch được xem là cảm nhận của cá nhân xuất phát trong bối cảnh của sự tương tác và sự tích hợp về nguồn lực. Còn theo Prebensen và ctg (2014) yếu tổ trải nghiệm liên quan đến khách du lịch về các mặt cảm xúc, thé chất, tinh than và trí tuệ. Việc đem đến cho khách hàng những trải nghiệm có chất lượng là một trong những yếu tố then chốt mang lại thành công của một chiến lược tiếp thị du lịch.
Theo Prahalad và Ramaswamy (2004), đồng tạo sinh là một quá trình hoạt động sáng tạo và xã hội, dựa trên sự hợp tác giữa nhà sản xuất và người sử dụng, được khởi xướng bởi công ty để tạo ra giá trị cho khách hàng. Có thé hiểu rang, tạo sinh trải nghiệm là quá trình nhà cung cấp tạo ra giá trị cảm nhận vẻ một trải nghiệm cho khách hàng: còn đồng tạo sinh trải nghiệm là quá trình kết hợp giữa nha sản xuất/nhà cung cấp với khách hang dé cùng nhau tạo ra cảm nhận về trải nghiệm (cảm xúc, thê chất, tinh thần và trí tuệ) tốt đẹp cho khách hàng. Khái niệm đồng tạo sinh trải nghiệm tập trung vào việc khách hàng được xem là người tạo ra giá trị của trải nghiệm, khi tương tương tác với với tô chức thì được gọi là đồng tạo ra gia tri (Prebensen, N. Điều này nhân mạnh đến vai trò của khách hàng trong quá trình tạo ra giá trị trải nghiệm.
Payne & ctg (2008) cho rang việc tạo ra giá trị luôn có sự tương tác va cùng nhau giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng: họ có cơ hội để tạo ra giá trị thông qua việc tùy chỉnh, cùng làm việc và đưa ra. Theo Shaw và ctg (2011), trong bối cảnh du lịch, khái niệm đồng tạo sinh đặc biệt đáng quan tâm. Mục đích của việc đồng tạo sinh ra trải nghiệm là để tạo ra giá trị cho cả du khách va nhà cung cấp dich vu. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, khái niệm đông tạo sinh trải nghiệm được hiều là quá trình chủ nhà và du khách nước ngoài cùng hợp tác với nhau đề tạo ra trải nghiệm về dịch vụ homestay cho du khách.
Khái niệm sẵn sàng tham gia của khách hàng (Customer Participation Readiness) Sự tham gia của khách hàng (Customer Participation) được định nghĩa là mức độ một khách hàng đóng góp sự nỗ luc, kiến thức hoặc những yếu tô đầu vào khác vao việc sản xuất và phân phối dich vụ (Chan, Yim, and Simon, 2010; Dabholkar, 1990). Trong giai đoạn hiện nay, cùng với su phat triển trong ngành dịch vu, sự tham gia của khách hàng vào quá trình tạo ra giá trị đang dang trở nên dan phổ biến. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học công nghệ cũng giúp cho khách hang dé dàng tiếp cận vào việc tham gia vào quá trình tạo ra gia tri. Ví dụ như việc phổ biến các loại máy bán hàng tự động hay việc khách hàng tự phục vụ trong các nhà hàng hoặc tự mình thực hiện các công việc mà trước kia cần có con người cụ thể, nhân viên hướng dẫn (ở sân bay, ga tàu.
Có thé thay rang, về mặt kinh tế, việc để khách hàng tham gia vào quá trình hoạt động phần nào giúp doanh nghiệp, nhà cung cấp dịch vụ cắt giảm được một khoản chi phí nào đó. Đứng ở góc độ khách hang, có thé khách hàng sẽ cảm thấy việc tự phục vụ là tốt hơn, họ sẽ cảm thấy thoải mái và thích thú khi bản thân mình tham gia vào các hoạt động. Nhưng đối với nhóm đối tượng khách hàng khác, họ cảm thấy bị bỏ rơi hoặc cảm thấy phía nhà cung cấp không đáp ứng được yêu cầu của họ khi họ phải tự mình làm những việc mà lẽ ra nhà cung cấp phải phục vụ họ. Vì lý do trên, Chan, Yim, & Lam (2010) cho rang sự tham gia của khách hàng là “con dao hai lưỡi” đối với các nhà quản lý.
Sự sẵn sàng tham gia của khách hàng (Customer Participation Readiness) được xem là việc khách hàng có chuẩn bị để tham gia vào hoạt động sản xuất và phân phối dịch vụ tới mức độ nao (Meuter và cộng sự, 2005). Điều nay nhắn mạnh đến việc khách hàng sẵn sàng tham gia cùng với chủ nhà trong quá trình tạo ra kết quả của hoạt động dịch vụ. cụ thể đối với nghiên cứu của luận văn này là trãi nghiệm có được khi sử dụng dịch vụ homestay. Cũng theo Meuter va cộng sự (2005), sự sẵn sàng tham gia của khách hang gôm có 03 thành tố: cảm nhận về khả năng, cảm nhận về lợi ích nhận được khi tham gia và hiệu rõ vai trò tham gia.
- Cảm nhận về khả năng (Perceived ability): Đề cập đến kiến thức và kỹ năng của khách hàng mà có thé giúp họ tham gia một cách hiệu quả. - Cảm nhận về lợi ích (Perceived benefit ofparticipation): Dé cập đến sự đánh giá của khách hàng về phần thưởng nhận được từ sự tham gia. - Su nhận dién/hiéu rõ về vai trò (Role Identification): Khái niệm này phản ánh mức độ mà khách hàng chấp nhận hoặc tiếp thu vai trò của mình trong việc tham gia.4 Khái niệm về chất lượng tương tác của chú nha (Host Interaction Quality) Sự tương tác (Interaction) theo định nghĩa của Grönroos (2011), trích dẫn bởi Hau & Thuy (2016): là hành động qua lại hoặc tác động lẫn nhau; trong đó, hai hay nhiều bên có ảnh hưởng đên nhau. Trong lĩnh vực dich vu, sự tương tác đóng một vai trò quan trọng.
Bitner và các cộng sự (1994) cho rằng sự tương tác của mỗi cá nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Jamel và Naser (2002) thừa nhận rằng chất lượng quan hệ (cụ thể là chất lượng tương tác giữa nhân viên và khách hàng) có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của khách hàng. 10 Cũng theo Grönroos (1982, 1984), trích dẫn bởi Lemke và các cộng sự (2011), chất lượng tương tác (Interaction quality) dé cập đến sự cảm nhận của khách hàng về cách thức dịch vụ được đưa ra trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ.