Mở đầu Chương được xây dựng để tổng quát hoá đề tài nghiên cứu, đồng thời để xác định tính cần thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và kết quả mà chúng tôi cần đạt được. Tổng quan Chương này phác họa bức tranh tổng quát về đặc điểm tự nhiên và hiện trạng kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận và VQG Núi Chúa. Đồng thời giới thiệu cơ bản về hoạt động du lịch tại VQG Núi Chúa. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Ở chương này nêu lên một số lý thuyết, khái niệm cơ bản liên quan hoạt động DLST và các phương pháp phân tích hay một số định hướng, chiến lược mà VQG Núi Chúa đã và nên sử dụng làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra kết quả nghiên cứu rõ ràng và chính xác.
Kết quả và thảo luận Dựa vào dữ liệu và các thông tin thu thập được chúng tôi đi sâu phân tích, đánh giá nêu bật lên thực trạng hoạt động DLST tại VQG Núi Chúa. Qua cơ sở phân tích những thông tin về khách du lịch, về cơ sở vật chất mà chúng tôi đưa ra những định hướng, giải pháp để khai thác tốt tiềm năng DLST tại khu vực nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị Cuối cùng, ở chương này nêu lên một cách ngắn gọn, cô đọng về các kết quả nghiên cứu ở chương 4 từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động DLST và bảo tồn ĐDSH tại VQG Núi Chúa. x CHƯƠNG II TỔNG QUAN 2.
Giới thiệu tổng quan về tỉnh Ninh Thuận Ninh Thuận 2. Điều kiện tự nhiên a. Vị trí địa lý Ninh Thuận là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông.
Phần đất liền Ninh Thuận nằm trong giới hạn 11 018’ - 11010’ vĩ độ Bắc và 108039’ - 109014’ kinh độ Đông. Ninh Thuận được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển. Giữa tỉnh và ven biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh là miền viễn tây của Việt Nam. Vùng núi cao chiếm 63,2% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, vùng gò đồi chiếm 14,4% và đồng bằng là 22,4%.
Với vị trí địa lý và những đặc điểm tự nhiên nêu trên đã tạo cho Ninh Thuận có một tiềm năng rất lớn về du lịch đặc biệt là DLST. Ngoài ra còn tạo điều kiện cho Ninh Thuận giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ với các tỉnh Đông Nam Bộ, bán Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Đồng thời cũng đặt Ninh Thuận trước sự thách thức phải đẩy mạnh phát triển kinh tế cũng như tránh nguy cơ tụt hậu so với các tỉnh trong vùng Nam Trung Bộ và cả nước. Đặc điểm địa hình Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Lãnh thổ Ninh Thuận được bao bọc 3 mặt là núi: phía Bắc và phía Nam là 2 dãy núi cao lan ra sát biển, phía Tây là vùng núi cao giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông. Ninh Thuận có 3 dạng địa hình: núi, đồi gò bán sơn địa, đồng bằng ven biển. xi Vùng đồi núi của tỉnh chiếm 63,2% diện tích toàn tỉnh. Địa hình chủ yếu là núi thấp, cao trung bình từ 200 m - 1000 m.
Vùng đồi gò bán sơn địa chiếm 14,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở phía Tây các huyện Ninh Phước, Ninh Hải và Ninh Sơn. Đây là vùng tập trung phần lớn diện tích đất chưa sử dụng và có khả năng khai thác phát triển sản xuất nông nghiệp và nông lâm kết hợp với diện tích khá lớn. Vùng đồng bằng ven biển chiếm 22,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đây là vùng có điều kiện phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, sản xuất công nghiệp chính của tỉnh.
Khí hậu và thời tiết Nhiệt độ và lượng mưa Nhiệt độ trung bình năm 270C. Lượng mưa trung bình từ 700 - 800 mm ở Phan Rang và tăng dần theo độ cao trên 1100 mm ở vùng miền núi. Độ ẩm không khí từ 75 - 77%. Năng lượng bức xạ lớn 160 CL/m2.
Tổng lượng nhiệt 9500 - 10000 0C. Khí hậu Nằm trong khu vực có vùng khô hạn nhất cả nước, có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng là khô nóng gió nhiều, bốc hơi mạnh từ 670 - 1827 mm. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau. Tài nguyên thiên nhiên a.
Tài nguyên rừng Tỉnh Ninh Thuận có 157.300 ha bao gồm rừng tự nhiên 152.300 ha, rừng trồng 5.000 ha, tỷ lệ che phủ rừng 46,8%. Do nhiều năm khai thác gỗ với khối lượng lớn phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong và ngoài tỉnh nên đã làm kiệt quệ tài nguyên rừng, làm giảm diện tích rừng già và trung bình làm tăng rừng nghèo và rừng non. Diện tích rừng giàu có 7.000 ha chiếm 4,65% và diện tích rừng trung bình có 20,000 ha chiếm 13,2%, trữ lượng gỗ toàn tỉnh còn gần 11 triệu m3 và 2,5 triệu cây tre nứa, rừng sản xuất có 58,5 nghìn ha trữ lượng 4,5 triệu m3 gỗ, rừng phòng hộ đầu nguồn 98,9 nghìn ha trữ lượng gỗ 5,5 triệu m3. xii Ngoài ra Ninh Thuận còn có các khu rừng đặc dụng khác như rừng nguyên sinh đèo Ngoạn Mục, rừng nguyên sinh Phước Bình (Bác Ái) cần được bảo vệ.
Tài nguyên đất Tài nguyên đất tỉnh Ninh Thuận không nhiều, phần lớn là đất đồi núi, độ dốc cao, tầng đất mỏng, đá lẫn và lộ đầu ít đến nhiều. Tổng diện tích đất có khả năng nông nghiệp toàn tỉnh khoảng 101,8 nghìn ha đất canh tác, hiện đã sử dụng 60,4 nghìn ha. Tiềm năng đất nông nghiệp có khả năng mở rộng thêm khoảng 46 nghìn ha, trong đó từ diện tích đất chưa sử dụng có khả năng nông nghiệp khoảng 25 nghìn ha, từ đất còn rừng thưa, rừng non phục hồi sau nương rẫy 21 nghìn ha. Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận có 9 nhóm với 75 loại đất: Nhóm đất cát, nhóm đất mặn, nhóm đất phù sa, nhóm đất glây, nhóm đất mới biến đổi, nhóm đất xám vùng bán khô hạn, nhóm đất xám, nhóm đất đỏ, nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá.
Tài nguyên nước Ninh Thuận có nhiều sông, suối, tổng diện tích lưu vực các sông chính 3,600 km2, tổng chiều dài sông suối 430 km, gồm có 2 hệ thống sông chính: - Hệ thống sông Cái và các sông nhánh bao gồm sông Trà Co, sông Sắt, sông Cho Mo, suối Ngang, sông Ông, sông Dầu, sông Than, sông Quao, sông Lu với tổng chiều dài 246 km, diện tích lưu vực 1929,5 km2. Trữ năng thủy điện trên hệ thống sông Cái khoảng 20.000 KW, điều kiện để xây dựng các công trình thủy điện nhỏ và vừa. - Hệ thống các sông độc lập ngoài sông Cái Phan Rang gồm sông Trâu, suối Bà Râu - Kiền Kiền, suối Đồng Nha, suối Ông Kinh, suối Nước Ngọt, sông Quán Thẻ (Ninh Phước), suối Núi Một. Tài nguyên biển Bờ biển Ninh Thuận với vùng lãnh hải rộng khoảng 18.000 km 2 có 3 cửa ra biển là Đông Hải, Cà Ná, Khánh Hải.
Vùng biển Ninh Thuận là một trong bốn ngư trường lớn nhất và giàu nguồn lợi nhất về các loại hải sản của cả nước, nhiều tiềm năng để phát triển du lịch và phát triển công nghiệp khai thác thủy sản và khoáng sản biển. Vùng biển Ninh Thuận có trên 500 loại cá trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao. Tổng trữ lượng cá tôm 120 ngàn tấn, trong đó trữ lượng cá đáy 70 - 80 ngàn tấn, cá nổi 30 - 40 ngàn tấn. Khả năng khai thác hàng năm 50 - 60 ngàn tấn.
Toàn tỉnh xiii có 3.000 ha mặt nước, gồm các đầm vịnh và các bãi rạn lớn gần bờ rất thuận lợi cho việc làm muối, nuôi trồng thủy hải sản quy mô lớn, tập trung. Khả năng diện tích làm muối có thể tới 3 - 4 ngàn ha; sản lượng 400 - 500 ngàn tấn, tập trung ở khu vực Đầm Vua, Cà Ná, Quán Thẻ và vùng ven biển thị trấn Khánh Hải. Vùng bờ biển Ninh Thuận có các bãi tắm nổi tiếng như: Ninh Chữ - Bình Sơn, Cà Ná, Bình Tiên, Vĩnh Hy, Mũi Dinh, gắn với các công trình văn hóa Chăm nổi tiếng và nhiều cảnh quan tạo thế liên hoàn cho khả năng phát triển ngành du lịch - dịch vụ. Tài nguyên khoáng sản Khoáng sản ở Ninh Thuận tương đối phong phú về chủng loại gồm: - Nhóm khoáng sản kim loại có Wolfram ở Krông pha, núi Đất, molipden, núi Đất (4.000 tấn), thiếc gốc ở núi Đất (24.
- Nhóm khoáng sản phi kim loại có thạch anh tinh thể ở núi Chà Bang, Mộ Tháp 1, Mộ Tháp 2; cát thủy tinh ở Thành Tín, sét gốm ở Vĩnh Thuận,v. - Muối khoáng: thạch anh ở Cà Ná, Đầm Vua, sô đa ở đèo Cậu,v. - Nguyên liện sản xuất vật liệu xây dựng có đá Granitte trữ lượng trên 850 triệu m3, cát kết vôi ở Sơn Hải, Cà Ná, Mỹ Tường trữ lượng khoảng 1,5 triệu m 3; đá vôi san hô tập trung ở Mỹ Tường, Thái An, Cà Ná - trữ lượng 2,5 triệu tấn CaO; sét phụ gia, đá xây dựng. Điều kiện kinh tế xã hội a.
Cơ cấu kinh tế Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh có nhiều ngành: Nông - lâm – ngư nghiệp, thủy hải sản, công nghiệp sản xuất muối, du lịch,v. Ninh Thuận có vùng lãnh hải rộng 18 nghìn km2, là một trong những ngư trường quan trọng của Việt Nam với 500 loài hải sản, cho phép khai thác mỗi năm 5 - 6 vạn tấn. Ninh Thuận là địa phương sản xuất muối lớn nhất cả nước với sản lượng 130 nghìn tấn/năm, với các nhà máy sản xuất lớn như: Cà Ná, Phương Cự, ngoài ra với diện tích rừng lớn lâm nghiệp cũng được coi là thế mạnh nhưng khai thác chưa hiệu quả. Tổng quỹ đất lâm nghiệp của tỉnh có khoảng 200 nghìn ha, đến năm 2000 đã sử dụng 157,3 nghìn ha.
Diện tích đất lâm nghiệp có thể mở rộng thêm khoảng 50 nghìn ha. Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá không rừng cây có 104,1 nghìn ha. Trong xiv đó, trên 19.200 ha đất bằng, trên 72.500 ha đất đồi núi và diện tích mặt nước chưa sử dụng có khoảng 800 ha. Cơ sở hạ tầng Hệ thống giao thông đường bộ: Tổng số đường bộ của vùng có 179,88 km; mật độ 0,867 km/km2 trong đó 39,4% là đường nhựa.