Mở đầu. + Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn. + Phần 3: Phương pháp nghiên cứu. + Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
+ Phần 5: Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT CHO PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm về tích tụ đất Theo lý luận về sản xuất tư bản của C.Mác (Chu Văn Cấp và Trần Bình Trọng, 2002), quá trình qui mô tư bản tăng lên được thực hiện bằng hai phương thức là tích tụ tư bản và tập trung tư bản. Hai phương thức này có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau. Tích tụ tư bản là tập trung vốn đủ lớn vào một đơn vị kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau để có thể đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, áp dụng công nghệ cao trong sản xuất và quản lý và tận dụng lợi thế kinh tế theo qui mô. Tích tụ ruộng đất có thể coi là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp (Chu Quang Tiến và Lưu Đức Hải, 2009).
Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn. Cạnh tranh và tín dụng là những đòn bẩy mạnh nhất thúc đẩy tập trung tư bản. Do cạnh tranh mà dẫn tới sự liên kết tự nguyện hay sáp nhập các tư bản cá biệt. Tín dụng tư bản chủ nghĩa là phương tiện để tập trung các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội vào tay các nhà tư bản (Vũ Trọng Khải, 2008).
Tích tụ và tập trung tư bản có điểm giống nhau là chúng đều làm tăng quy mô của tư bản cá biệt. Nhưng giữa chúng lại có những điểm khác nhau. Một là, nguồn để tích tụ tư bản là giá trị thặng dư, do đó tích tụ tư bản làm tăng quy mô của tư bản cá biệt, đồng thời kìm tăng quy mô của tư bản xã hội. Còn nguồn để tập trung tư bản là những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội, do đó tập trung tư bản chỉ làm tăng quy mô của tư bản cá biệt, mà không làm tăng quy mô của tư bản xã hội.
Hai là, nguồn để tích tụ tư bản là giá trị thặng dư xét về mặt đó, nó phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa tư bản và lao động: nhà tư bản tăng cường bóc lột lao động làm thuê để tăng quy mô của tích tụ tư bản. Còn nguồn để tập trung tư bản là những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội do cạnh tranh mà dẫn đến sự liên kết hay sáp nhập, xét về mặt đó, nó phản ánh trực tiếp quan hệ cạnh tranh 5 trong nội bộ giai cấp các nhà tư bản; đồng thời nó cũng tác động đến mối quan hệ giữa tư bản và lao động (Vũ Trọng Khải, 2008). Tích tụ là quá trình tích tụ tư bản với đất đai là tư liệu sản xuất chính để mở rộng sản xuất và phát huy được lợi thế kinh tế theo quy mô. Hoạt động tích tụ ruộng đất được thực hiện trên thị trường đất đai.
Để có đất đai đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư có thể mua quyền sở hữuhay thuê quyền sử dụng đất theo nguyên tắc "thuận mua, vừa bán" hoặc thuê lại đất và trả địa tô cho người cho thuê đất. Như vậy, tích tụ ruộng đất gắn liền trực tiếp tới thị trường đất, khác với dồn điền đổi thửa. Dồn điền đổi thửa chỉ có tác dụng mở rộng qui mô của một thửa đất, và giảm số thửa đất của nông hộ, khiến họ quản lý sản xuất thuận lợi và có hiệu quả cao hơn, mà không làm tăng qui mô ruộng đất của nông hộ (Vũ Trọng Khải, 2008). Tuy nhiên, Lê Đức Thịnh (2008) lại cho rằng tích tụ tích tụ ruộng đất là việc làm tăng tổng diện tích trên một đơn vị sản xuất.
Nhìn chung có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau liên quan đến tích tụ nhưng tất cả đều có những điểm chung là: i) Tích tụ ruộng đất sẽ khắc phục được tình trạng manh mún đất đai khi tăng quy mô diện tích canh tác của hộ gia đình; ii) Hoạt động tích tụ không thể tách rời với thị trường đất đai mà cụ thể bao gồm thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thị trường thuê đất; iii) Tích tụ và tập trung đất cùng với dồn điền đổi thửa đều nhằm mục đích giảm manh mún, nhưng tích tụ ruộng đất gắn trực tiếp đến sự phân tầng về diện tích đất và mức sống ở khu vực nông thôn. Đặc trưng của tích tụ ruộng đất trong nông nghiệp khác với tích tụ tư bản trong công nghiệp. Do ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được và có giới hạn, mặt khác do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học, vì thế trong khi tích tụ tư bản trong công nghiệp gần như là không giới hạn, hình thành nên những tập đoàn kinh tế ngày một lớn hơn trên phạm vi toàn cầu, tận dụng tối đa lợi thế kinh tế theo quy mô, thì trong nông nghiệp, lợi thế kinh tế theo quy mô bị hạn chế (Vũ Trọng Khải, 2008). Điều kiện để tích tụ ruộng đất chủ yếu liên quan đến hành lang pháp lý và hoạt động của thị trường đất đai.
Hình thức liên kết, hợp tác giữa các chủ thể sở hữu để hình thành nên quy mô canh tác lớn hơn mà không làm thay đổi tình trạng sở hữu không được xem là tích tụ ruộng đất (Vũ Trọng Khải, 2008). 6 Trong đề tài này thì tích tụ ruộng đất được hiểu là sự tăng quy mô ruộng đất của một đơn vị sản xuất (nông hộ) theo thời gian. Theo quy định của luật đất đai 2003 và luật đất đai hiện hành 2013, hạn điền là 3 ha đối với đất trồng cây hàng năm, thì hộ canh tác lúa được coi là có tích tụ ruộng đất nếu có diện tích đất lúa tăng lên đến trên 3 ha ở thời điểm khảo sát hiện tại so với thời điểm khảo sát trước (Vũ Trọng Khải, 2008). Tích tụ ruộng đất ở cấp độ nông hộ bao gồm các hành vi khai hoang, thừa kế, mua, thuê, nhận cầm cố để tạo ra quy mô ruộng đất lớn hơn phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp.
Khái niệm tích tụ ruộng đất cho phát triển nông nghiệp Có nhiều người nhầm tưởng rằng tích tụ và tập trung ruộng đất là hai khái niệm giống nhau nhưng trên thực tế tích tụ và tập trung đất đai là hai khái niệm khác nhau. Ông Hồ Xuân Hùng, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, cho biết, tích tụ ruộng đất là quá trình mua đất để sở hữu đất đai ở quy mô lớn hơn, còn tập trung ruộng đất là liên kết nhiều mảnh ruộng của nhiều chủ sở hữu khác nhau lại thành mô hình cánh đồng lớn (Trần Vĩnh Huệ, 2008). Phân biệt rõ tích tụ và tập trung đất đai là để có những chính sách phù hợp hơn với từng loại hình tập trung ruộng đất để sản xuất lớn. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho hay, tích tụ hay tập trung thì hệ quả sở hữu đất sẽ khác nhau.
Quan điểm của Trần Đình Thiên là với tích tụ, nhà nước chỉ cần thừa nhận và để nó diễn biến một cách tự nhiên. Còn với tập trung, cần có những chính sách khuyến khích để đẩy nhanh quá trình tập trung đất đai ở các địa phương, đồng thời có những chế tài đảm bảo quyền lợi của DN lẫn nông dân (Trần Vĩnh Huệ, 2008). Còn theo ông Nguyễn Thế Trung, Ủy viên Hội đồng Lý luận TƯ, hiện đang có 4 hình thức tích tụ hay tập trung đất đai là nông dân cho DN thuê đất, nông dân góp vốn với DN bằng mảnh đất của mình, Nhà nước thu hồi đất của nông dân rồi cho DN thuê và nông dân bán đất cho DN. Trong đó, hình thức nông dân cho DN thuê đất được nhiều hộ nông dân ủng hộ nhất, bởi họ vẫn muốn giữ quyền sở hữu mảnh đất của mình.
Khái niệm phát triển sản xuất nông nghiệp Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc 7 trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ (Hoàng Ngọc Hòa, 2010). Phát triển sản xuất nông nghiệp là sự phát triển ở khu vực nông nghiệp nhằm đảm bảo được cung ứng thực phẩm an toàn và ổn định cho người tiêu dùng, hiệu quả cao đối với người sản xuất và đảm bảo bền vững về mặt môi trường cho xã hội. Phát triển sản xuất nông nghiệp đóng góp vào xây dựng cảnh quan hài hòa với môi trường của của các địa phương. Nhằm khai thác nguồn lực của địa phương hướng đến phát triển bền vững (Hoàng Ngọc Hòa, 2010).
Phát triển sản xuất nông nghiệp hiệu quả cao và bền vững trước hết cần quản lý được đất giành cho sản xuất nông nghiệp, làm cho năng suất cây trồng, vật nuôi trên cùng một đơn vị diện tích phải ổn định và có xu hướng ngày càng được nâng cao, hiệu quả kinh tế thu được cũng phải nâng cao, nuôi sống được nhiều người và mức thu nhập cũng ngày càng được cải thiện mà không làm hủy hoại môi trường của tự nhiên và của công đồng. Như vậy, cần phải áp dụng các tiến bộ KHKT để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích nhưng không làm ô nhiễm, suy thoái môi trường (Hoàng Ngọc Hòa, 2010). Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đang là bài toán khó để duy trì được tính ổn định của quá trình chuyển đổi nghề nghiệp. Một mét vuông ở vùng thuần nông có thể chỉ tạo ra một đồng, nhưng ở vùng ven đô, nhất là ven Hà Nội thì phải tạo ra gấp nhiều lần mới thu hút được người dân tham gia.