MỞ ĐẦU Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong cải cách nông nghiệp, đặc biệt từ khi phát động đổi mới vào năm 1986. Nghị quyết 10 của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI năm 1988 đã tạo ra một bước đột phá trong cải cách đất đai. Lần đầu tiên, hộ nông dân được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ, có quyền bình đ ẳng với các thành phần kinh tế khác trước pháp luật. Đất đai được giao ổn định và lâu dài.
Cùng với quá trình cải cách, Luật đất đai ra đời năm 1993 đã đánh d ấu một bước thể chế hóa các giao dịch về đất. Sau các lần sửa đổi và bổ sung năm 1998 và 2003, các hộ gia đình đã được quyền chuyển nhượng, trao đổi và thừa kế, cho thuê và thế chấp đất. Các cải cách đất đai được thực hiện gắn liền với hàng loạt các cải cách khác như về giá, thủy lợi, và khoa học công nghệ, tất cả đã góp phần tạo ra động lực cho sản xuất nông nghiệp phát triển. heo số liệu thống kê của Vụ Kế hoạch - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), tính từ năm 2000 đến nay, tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt gần 5,36%/năm, GDP tăng 3,7%/năm.
Tuy nhiên, về cơ bản nông nghiệp vẫn chưa có sự thay đổi về chất, tăng trưởng kém bền vững và khả năng cạnh tranh thấp. Điều đáng lo ngại là tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp đang có xu hướng giảm dần, từ 4%/năm trong giai đoạn 1995-2000 xuống còn 3,83%/năm giai đo ạn 2001-2005 và 3,3%/năm giai đoạn 2006-2010. Tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cũng có xu hư ớng giảm, từ 66,35% năm 2000 xuống 58,8% năm 2010 (theo giá thực tế). Sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp đang đặt ra nhiều thách thức đối với nỗ lực của chính phủ trong xóa đói giảm nghèo và duy trì ổn định an ninh lương thực.
Cùng với đà suy giảm của nông nghiệp trong thời gian gần đây, cuộc khủng hoảng lương thực vào đầu năm 2008 đã gây ra nhi ều bất ổn về chính trị, kinh tế và xã hội cho nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Các tác động của khủng hoảng lương thực và hậu quả của nó đã cho thấy được tầm quan trọng của việc đảm bảo an ninh lương thực của các quốc gia. Đây vẫn sẽ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách của chính phủ. Với hơn 80 triệu dân, trong khi diện tích đất lúa chỉ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là 4,1 triệu ha và số hộ có quy mô diện tích dưới 0,5 ha còn chiếm trên 70%1, lời giải cho bài toán tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam đang là một thách thức lớn cho các nhà lập chính sách.
Trong giai đoạn 2001-2010, hàng năm Việt Nam mất đi khoảng hơn 70 nghìn ha do nhu cầu của công nghiệp hóa, đô thị hóa và tốc độ mất đất nông nghiệp đang có xu hướng tăng dần. Như vậy, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam sẽ phải đối mặt với một thách thức rất lớn trong việc thỏa mãn nhu cầu lương thực và nguyên liệu thô cho công nghiệp và quy mô dân số ngày một lớn. Việc đảm bảo cung cấp đủ lương thực và thúc đẩy một nền nông nghiệp phát triển bền vững đang và sẽ là thách thức mà chính phủ và các nhà nghiên cứu phải đối mặt trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày một sâu rộng. Nghị quyết 26 của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại kỳ họp thứ 7 khóa X về vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tăng năng suất nông nghiệp như là một trong những yêu cầu cấp bách để đối phó với các vấn đề thời đại khi nguy cơ bùng phát khủng hoảng lương thực xảy ra.
Với áp lực dân số gia tăng trong khi đất đai ngày một khan hiếm thì việc đẩy mạnh năng suất nông nghiệp được xem là một cách hiệu quả trong việc đảm bảo sản xuất đủ lương thực trong dài hạn của Việt Nam. Một trong những trở ngại cho việc cải thiện năng suất đó chính là tình trạng manh mún đất đai và sản xuất nông nghiệp ở quy mô nhỏ. Theo điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008, bình quân diện tích đất nông nghiệp của hộ là 0,65ha được chia cho 3,8 mảnh. Trong khi đó diện tích đất trồng cây hàng năm trung bình chỉ có 0,37ha một hộ gia đình ở khu vực nông thôn.
Câu chuyện về thành công của nông nghiệp Việt Nam trong suốt hơn hai thập kỷ qua có được là nhờ sự thay đổi trong thể chế như Nghị quyết 10 và Luật đất đai. Sự đổi mới về thể chế đã t ạo ra động lực cho hộ gia đình trong vi ệc đầu tư tăng sản lượng. Tuy nhiên, sự sụt giảm về tăng trưởng nông nghiệp trong thời gian gần đây lại chỉ ra rằng vai trò của các cải cách này trong việc đẩy nhanh sản xuất hơn nữa đang dần giảm tác dụng. Diện tích đất nông nghiệp đang sụt giảm trong những năm gần 1 Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn, 2010.
Tổng cục thống kê 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đây, đã làm cho qu y mô sản xuất ngày một bị thu hẹp, điều này đã hạn chế trong việc áp dụng cơ giới hóa trong nông nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng bền vững diện tích đất nông nghiệp và thúc đẩy tích tụ ruộng đất đang và sẽ trở thành hướng đột phá nhằm tiến tới một nền nông nghiệp quy mô lớn và năng suất cao. Với những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tích tụ tập trung và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam”, làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ Khoa học Môi trường với các mục tiêu: Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu thực trạng phân mảnh và xu thế của tích tụ tập trung ruộng đất nông nghiệp Việt Nam, những tác động của quá trình tích tụ tập trung đất đai và từ đó đề ra các phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất trong sản xuất nông nghiệp. Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, tôi tập trung vào phân các cụ thể mục tiêu các như sau: - Làm rõ thực trạng, kết cấu và xu thế thay đổi sử dụng đất nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam, qua đó thấy được một bức tranh tổng thể về hiện trạng phân mảnh cũng như xu hướng tích tụ tập trung đất đai trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong đất trồng lúa.
- Xác định và đánh giá các yếu tố tác động đến quá trình tích tụ tập trung đất nông nghiệp và ảnh hưởng của quá trình này đ ến phân phối thu nhập ở khu vực nông thôn Việt Nam. - Đánh giá tác động của quá trình tích tụ tập trung đất đai tới hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất, năng suất lao động, khả năng cơ giới hóa cũng như bất bình đ ẳng nông thôn. Các kết quả nghiên cứu có thể đóng góp vào việc xây dựng chính sách nhằm đẩy nhanh hoạt động tích tụ và tập trung ruộng đất, từng bước tạo dựng một nền nông nghiệp có quy mô hiện đại, tập trung, phát triển một cách bền vững và nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN Đất đai đã tr ở thành vấn đề trung tâm trong lịch sử và phát triển của Việt Nam cũng như c ủa nhiều quốc gia khác. Với đặc trưng là một nước đang phát triển có dân số đông, lại phần lớn tập trung ở khu vực nông thôn. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2007, dân cư nông thôn ở Việt Nam chiếm tới 72,6% dân số cả nước, trong đó phần lớn là hộ thuần nông. Trong khi đó số hộ có diện tích đất dưới 0,5 ha vẫn chiếm trên 70% tổng số hộ.
Chính vì vậy, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình cải cách đất đai để duy trì và thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp. Mặc dù Việt Nam đã đ ạt đươc nhiều thành công của cải cách kinh tế và mở cửa nhưng nông nghiệp những năm vừa qua đang có xu hướng giảm. Sự sụt giảm này có rất nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó yếu tố đất đai đang trở thành một trong những vấn đề chính trong việc giải quyết bài toán tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam. Một trong những thách thức mà nông nghiệp của Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt đó chính là nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp thông qua đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất trong bối cảnh có nhiều điều kiện mới được đặt ra như tác động của hội nhập ngày một sâu rộng, sự phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa làm cho diện tích đất có xu hướng giảm và thay đổi mục đích sử dụng, trong khi tỷ lệ lao động nông nghiệp lớn và có trình đ ộ thấp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất là một trong những tiền đề quan trong cho sự thành công trong cải cách nông nghiệp của Việt Nam. Quá trình cải cách đất đai đang đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi phải được làm sáng tỏ. Các định nghĩa Tích tụ và tập trung ruộng đất được định nghĩa theo nhi ều cách khác nhau. FAO (2003) cho rằng tích tụ và tập trung ruộng đất chính là quá trình phân bổ và sắp xếp lại các mảnh nhằm loại bỏ hạn chế của tình trạng manh mún đất đai.
Manh mún ruộng đất bao gồm tình trạng manh mún về ô thửa và sự phân tán quy mô ruộng đất nông hộ. Để khắc phục tình trạng manh mún, có hai phương thức được thực hiện phổ biến là dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất. Dồn điền đổi thửa là phương thức 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang nặng tính kỹ thuật hơn là xã hội. Các ô thửa phải được xây dựng và quy hoạch lại phù hợp với yêu cầu sản xuất và quản lý đất đai ở mỗi vùng.
Trong khi đó, tích tụ và tập trung ruộng đất cũng góp phần vào giảm thiểu tình trạng manh mún đất nhưng tính chất phức tạp hơn vì nó liên quan đến phân hóa ruộng đất và phân hóa kinh tế nông hộ.